Truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa: đường biên đất trời Tây Bắc



Tạo dựng cho mình một mùi vị văn chương riêng quả là thử thách nặng nề nhưng quyến rũ bậc nhất với bất kì người viết nào. Khi nỗi âu lo rằng độc giả có thể thờ ơ với tất cả mọi trang sách nhàn nhạt đồng phục lên đến đỉnh điểm thì cũng là lúc người viết phải tự nhắc nhở mình về một sự phản bội có lý của người đọc nếu tác phẩm mình viết ra đánh mất mùi vị riêng, đánh mất bản sắc của nòi giống chữ nghĩa mà mình đã sinh thành cưu mang. Hai sự câu thúc đó gây nơi người viết ý thức lao động cẩn trọng, nghiêm túc, quyết liệt. Và vì thế, bản lĩnh anh ta, ngoài tư thế vượt qua những dấu chân trùng lặp, còn trở nên đẹp ở tư thế khiêm mình trước cám dỗ danh tiếng để gìn giữ một kết thúc có hậu cho văn nghiệp mà thời gian dẫu hào phóng nhưng không phải lúc nào cũng dành cho số đông.

Trường hợp Phạm Duy Nghĩa, tôi nghĩ, anh đã có một văn riêng. Dù số lượng truyện ngắn không nhiều, không xuất hiện thường xuyên theo nhịp đều đặn là đăng báo rồi in tuyển nhưng con số 12 truyện ngắn co lại trong lần tái xuất này cũng đủ xác nhận mã vạch nghệ thuật của anh trên văn đàn hiện thời[[1]]. Không chỉ vì ở đấy người ta gặp lại một Cơn mưa hoa mận trắng từng làm giới văn bút Hà Thành phải ngước nhìn vùng trời Tây Bắc bí ẩn mà xao lòng để rồi hễ nhắc đến anh, người con vùng núi non đẫm sương này, là nhớ ngay tên truyện như thể bỏ phiếu cho mạch văn giọng văn khác hẳn xung quanh. Cũng không chỉ vì những cái tên vùng đất, con người đầy chất xứ lạ (exotic) mà phải nhập thân trải nghiệm thật thấm thía mới tái cấu trúc chúng một cách thiện nghệ. Và đâu chỉ vì, thoạt nghe thôi, tên những truyện ngắn, đã nao nao như thơ với âm bằng tình tứ: Thương nhớ Lèng Hồ, Đường về xa lắm, Trăng trên rừng tông qua mu

1.      Từ sự va xiết màu sắc

 Hiếm thấy một trang văn nào của Nghĩa lại thiếu màu sắc. Màu sắc của thiên nhiên, của cảnh vật được chưng cất ở sắc độ nguyên thủy của nó và đặc biệt nhiều hơn cả là ở sự biến đổi, ở sự va xiết vào nhau, cứ triền miên nảy nở trong văn Nghĩa. Anh tái dựng chúng với niềm hưng phấn của người quan sát và liền đó, vung cành cọ phối màu, kết màu với chủ ý đưa đến xúc cảm thẩm mĩ. Màu sắc, vì thế, hiện lên trước hết như vẻ đẹp riêng của văn Nghĩa thông qua hệ lời có tính hội họa. Nếu là mùa đông thì “cỏ tranh trên đồi vàng xuộm, đôi chỗ vểnh lên vài cụm lau trắng lơ phơ”, là mùa thu thì “nắng vàng như bột ngô sấy khô núi rừng ẩm”, là Kin Chu Phìn “biến mất trong màn mưa trắng xóa”, một Phan Xi Păng với “những tảng trắng đặc bò lan trên sườn và nhồi kín trong hẻm núi, không biết gọi là mây hay là sương”, một Lèng Hồ “hoa kim ngân bên suối nở trắng ngần, lấp lóa, hoa linh lăng rập rờn trên núi”… Màu sắc trở thành khế ước của thiên nhiên, nơi nó cho thấy quyền chung sống, chiếm lĩnh sự sống thầm lặng mà bạo liệt. Sẽ chẳng có một không gian miền núi gói ghém trong mình sự quyến rũ mà bí ẩn nếu tước bỏ đi tính cách màu sắc phức hợp mà nhờ nó, cái không gian ấy đúng là sinh thể rất gần gũi nhưng luôn muốn con người khám phá. Như một đức tin suối nguồn trong trẻo, thuở ban đầu Nghĩa đã chọn màu trắng tinh khiết, tươi lành, hoang sơ để diễn tả cái “ý nghĩ siêu thoát và chay tịnh”. Đó là khi núi rừng ban huệ phước cho đất đai, cho con người bám víu vào nó với những ước mơ viễn vông mà lãng mạn, những dục vọng trần tục mà xúc động. Siêu thoát để chạm tới nghi lễ của thanh tẩy, nên “hoa mận trút xuống ào ào thành một cơn mưa trắng xóa” là nhịp điệu ca tụng lòng nhân. Cái kết bất ngờ mà vùng đất Kin Chu Phìn phủ ập lên những cá thể đơn độc bị lãng quên khiến người ta thấy Nghĩa đã dùng sắc trắng hoa mận như sắc màu huyền thoại, khỏa lấp nỗi khát khao lập một đường biên đất trời Tây Bắc trong thế ứng đối với mọi lấn chiếm sắc màu. Nhưng dần dà, Nghĩa buộc phải chọn những màu sắc phái sinh, bỏ qua thế sinh học của nó, để tô đậm tính cách nhân tạo. Màu đỏ lên ngôi, hệ lời trở nên đổi giọng, các sắc vẻ có khả năng gây rối loạn: “Không hiểu sao ở đây đất có mùi tanh, quánh đỏ như máu… Một lỗ huyệt đỏ loét được khoét ra, chờ nuốt một cỗ áo quan cũng sơn màu đỏ chóe”. Chưa hết, có “mồ mả đỏ loét”, vết sẹo “đỏ bầm”, chùm quả sẫm lại “như tụ máu người”, và cả bầu trời “đỏ rực”… Sắc đỏ phi tự nhiên này dẫn dụ độc giả va chạm vào những góc hiện thực khác mà sự tĩnh tâm sẽ không còn nữa. Ngay cả màu trắng cũng mang gương mặt khác: “một mảnh xương trắng vỡ lòi ra trắng nhởn”; “hai mắt ông vẫn mở, trắng dã, lồi ra” (Lá Vàng Chải)… Đó là xung lực khác mà màu sắc không hề giấu diếm, bức tranh thiên nhiên trở nên gây hấn giác quan, sự rùng mình trước tạo vật đã chuyển sang sợ hãi. Càng chi tiết hóa, sắc hóa, thì không gian càng dìm sâu vào hoài nghi, tra vấn với các mảnh lắp ghép đa chiều, đa điểm ráp nối. Nó không còn một ô cửa xúc cảm duy mĩ ban đầu mà mở rộng ra theo dòng suy tư về bản ác bản thiện của con người, thiên nhiên. Sắc màu cũng là phiên bản của nhân sinh, là căn cước của vùng đất. Thật khó để tách biệt được nó: “Cô đi về phía bên kia thung lũng phố núi, nơi vượt lên trập trùng đá xám là rừng thông nhấp nhô trải dài một đường răng cưa đen thẫm lên nền trời xanh lam, như đường hằn khắc nghiệt và nên thơ của một vùng đất hoang sơ, đói nghèo và luôn khan hiếm nước” (Thông trên đá). Không tách biệt cũng có nghĩa là sự va xiết màu sắc diễn ra thường ngày đến mức lí trí rất khó phân biệt những cái chết vô nghĩa là “vì chấn thương hay vì nọc rắn”. Nghĩa đã pha chiều các điểm màu, tạo cho chúng tính cách vừa dữ dội vừa chua xót, vừa “đam mê dịu dàng vừa thân thương”. Thế nên, Nghĩa không chỉ là một sứ giả ca hát sắc màu núi rừng, trao nó cho độc giả với niềm tự tín đặc sản vùng miền, đáng nói hơn Nghĩa làm người giải phẫu màu sắc, giải phẫu điềm tĩnh đến mức: “Giống thông khi được lột vỏ cũng đẹp như gái mười tám trút bỏ quần áo: thịt gỗ trắng phau, trơn mịn, trôi trượt rất nhanh” (Lá Vàng Chải). Để rồi cấp cho nó cái hồ sơ phi truyền thống: màu sắc là nhân sắc, sự va xiết màu sắc cũng là va xiết nhân tính. Bởi vậy, chỉ trong văn Nghĩa, mới có một sự tự thú chân thực, mới có sự cảm nhận màu sắc như là biệt dược: “Màu xanh ngằn ngặt của rừng như một chất moocphin làm nỗi đau đời trong tôi dịu đi” (Trăng trên rừng tông qua mu). Sắc màu, một lần nữa, thay vì ở thế vô can với con người, đã cất lên thành tiếng gọi trở về bản xứ, bản thể.

Điềm tĩnh mà đau đớn, cuộc giải phẫu màu sắc không hề dừng lại, vì nó thường chỉ đóng vai trò tương hỗ cho câu chuyện đang hoặc sắp xẩy ra. Bởi thế, gần như là thao tác, văn Nghĩa thường bắt đầu bằng lời tường trình của thiên nhiên, để sau đó con người mới ùa vào theo thế tương sinh tương khắc muôn đời.

2.      Trí tưởng tượng và kí ức bay cao hơn cả

 Dẫu không mong muốn nhưng phải chấp nhận một sự thật rằng, trong mỗi dân tộc thì trật tự của của kẻ mạnh, kẻ ưu thế bao giờ cũng lấn lướt, áp đảo những kẻ yếu thế nhằm hợp thức hóa sự có mặt của mình. Kết quả là, những vùng miền xa trung tâm bao giờ cũng có tâm lí mặc cảm, bị bỏ rơi, lãng quên. Sắc dân thiểu số và số phận vùng núi miền cao không quá hiếm hoi trong văn học Việt Nam. Thực tế đó diễn ra từ rất lâu trước khi Nghĩa trở lại vấn đề tưởng chừng như đã cạn kiệt lí giải: con người thiểu số trong mối quan hệ với thiên nhiên/tự nhiên, với văn hóa văn minh, một mối quan hệ mà, như chúng ta đã thấy, là cơ hội cho các diễn ngôn từ nhiều phía tham dự, nhiều định đề và ngụ ý khác nhau. Một nhà văn hiện thời, Nguyễn Huy Thiệp, trong Những ngọn gió Hua Tát, đã dựng lên không gian quần thể bản làng với nhiều yếu tố li kì, huyền bí, với những con người chịu nhiều nỗi cô đơn và cay đắng hơn, là nạn nhân của văn minh: “Đáng lẽ ra Bua sẽ sinh với người chồng được thừa nhận của mình một đứa con nữa, đứa con thứ mười, nhưng người đàn bà ấy không quen sinh nở trong sự đầy đủ và nền nếp cổ truyền. Nàng đã chết khi trở dạ đẻ giữa đống mền chăn ấm áp” [[2]].

Nghĩa bắt đầu những lí giải của mình bằng những tình huống và chi tiết, theo tôi, như một nghịch dị văn hóa khi anh chủ động tô đậm không gian sinh tồn hoàn toàn ở trạng thái tự nhiên, hoang dã: đảo hoang. Việc con người (bốn nhân vật: tôi, Vui, Thụy và con trai) có mặt ở đây như là cách để khảo sát nhân tính của họ, là cách để bản năng và đức hạnh có dịp cọ xát, là cơ hội để kiểm nghiệm sự “giáo dục của tự nhiên”… Tính chất nghịch dị, một khả thể hồi vật của con người được tác giả biếm nhại quyết liệt ở chi tiết Thụy bắt gặp con trai “nhét chim mình vào khe thịt dưới khấu đuôi con trâu cái” và “không chỉ với trâu mà cả gà và lợn”. Thú dục mọi rợ này tồn tại trong xã hội hiện đại khiến người ta nghi ngờ về những răn dạy của giáo lí văn hóa. Tính dục chỉ huy sự hình thành nhân tính hay con người có thể chế ngự được nó ? Và văn hóa sẽ đảm nhận sứ mệnh tạo tác phẩm cách con người hay mãi mãi bất lực trước những ràng buộc của tự nhiên bản năng ? Nghĩa còn chua thêm, ở một truyện ngắn khác: “Con vật là thế, động dục có kì, còn con người thì quanh năm. Ngẫm ra con người vẫn là dâm nhất” (Đường về xa lắm). Cách so sánh hơn nhất không chỉ ẩn chứa nụ cười giễu cợt chua chát mà nó còn đả thương vị thế con người vốn lâu nay tưởng vượt thoát khỏi kìm kẹp bản năng. Những bàn luận xoay quanh định đề bản ác, bản thiện, “bản dâm” của con người, theo tôi, là tiếng nói chủ nghĩa hiện đại của văn học Việt Nam, tuy khởi phát muộn màng, nhưng có đã có sự trưởng thành nhất định. Nghĩa tiếp tục thêm giọng thêm chất vào tiếng nói ấy là một lựa chọn có tính toán, cân nhắc.

Trở lại với truyện ngắn Trên đảo, ham hố nhục dục đã trở thành biểu tượng hai mặt: vừa là cơ chế của tự nhiên – văn hóa, vừa là cơ chế giống loài. Thụy, người đàn ông bỏ xã hội loài người để ra sống trên đảo chỉ vì:  “Đàn bà, động vật có vú, là loài tráo trở dâm loạn, cả đời tôi nợ máu với loài này”. Mô hình: “Hai bố con tự cày cuốc, săn bắt, câu kéo mà sống” chỉ có ý nghĩa tượng trưng cơ học cho việc tay chân lao động mà thôi. Còn thẳm sâu trong tiềm thức, Thụy, dù có được thiên nhiên tắm táp vẫn không rũ sạch, cắt bỏ mối thù hận giống cái, để rồi luôn bật ra những diễn ngôn về xung đột giống: “Tôi thích bắn nát bộ phận sinh dục của chúng, cái lỗ dâm, nguồn loạn”; “Giống cái bao giờ cũng bạc hơn […] Bọn gian phu, tôi cũng hận thật, nhưng ngẫm ra chúng chỉ sa vào cái hố mê loạn do đàn bà đặt sẵn mà thôi”. Và cái cách con người trả thù vì xung đột giống được mô tả trong truyện ngắn này dường như không khác lắm với bầy đàn dã thú cắn xé đồng loại. Xung đột giống, bởi vậy, phải chăng là cơ chế tạo ra lịch sử xã hội con người ? Lưu ý rằng, Thụy có thể thành công khi “cải tạo tự nhiên” để sống cuộc đời biệt lập trên đảo nhưng Thụy đã thất bại trong việc ngăn đứa con trai tiếp tục cơ chế giống loài mà tự nhiên mặc định. Kết thúc của sự giằng co ấy là “một mô đất tròn, cỏ phủ xanh lẫn thứ dây gì bò lan như dây muống”. Một cái kết đậm chất hiện sinh, đẩy dư vị câu chuyện đi xa hơn và lôi kéo chúng ta không ngừng suy tư về cuộc hiện tồn giống loài. Nếu Thụy đã giải thể tính cộng sinh giống mà con người đã thỏa thuận thì chính anh ta cũng mất đi sự sống theo nghĩa tự nhiên nhất. Trên đảo, rút cuộc, vẫn thúc giục con người nếm trải những hệ lụy trần tục chứ không phải chủ trương bi quan hóa nhân tính cũng như sự vô nghĩa, cô đơn của kiếp người. Trên đảo, theo đó, là một thiên truyện ngắn hay mà tính luận đề được cài đặt khéo léo trong tình huống đầy vẻ ngẫu nhiên.

Cũng có những chi tiết nghịch dị văn hóa nhưng các truyện Trên đồi lập lòe ánh lửa, Người nhà ông Luân, Hoa cẩm tú cầu ứng mệnh lại nghiêng về tiếng cười giễu nhại. Nghĩa có sự thích thú khi tạo ra chúng: tờ công văn thành giấy vệ sinh, cờ Đoàn may thành quần lót đàn bà, kẻ ám ảnh trinh tiết suốt đời làm tình manocanh, quan tham ghét sự đục khoét… Mỗi chi tiết được tung ra rất đúng lúc, với vẻ lạnh lùng thản nhiên, để làm câu chuyện trương nở sự tha hóa của gương mặt hiện thực đời sống. Tiếng cười giễu nhại thực sự đem lại cho văn Nghĩa nét khỏe khoắn như là cách người miền núi phản ứng lại sự xâm lấn bất khả kháng từ những trường lực văn hóa khác. Trong Đường về xa lắm, khi giễu rằng: “Thương thay miền núi” thì đồng thời Nghĩa cũng bảo vệ chính nó, một sự bảo vệ có lí lẽ của người trong cuộc: “Cái đất nước này từng tựa lưng vào miền núi mà đi lên”. Bản thân điều này, tuy phải xen cảm giác ngậm ngùi, nhưng là tâm thế một miền núi tìm thấy bảo hiểm trước sự phỉ báng tàn nhẫn và dai dẳng của cái nhìn địa lí hẹp hòi. Thực chất đó cũng là sự va xiết giữa các tiểu vùng văn hóa mà nguyên do nằm ở, mượn chữ của Claude Lévi Strauss, “khoảng cách sai biệt”[[3]]. Đường về xa lắm, tưởng là hoài niệm, nhưng lại có giọng giễu nhại cay độc, chắc hẳn vì sự nổi giận của “kẻ lép vế” và nó dường như là sự thật đáng ngạc nhiên trong các trang văn xuôi viết về miền núi vốn chỉ ưa chuộng mời gọi và ngợi ca hồn nhiên.

Đối ứng với nghịch dị văn hóa, Nghĩa đưa ra lời qui ước của thiên nhiên, nhất là thiên nhiên vùng cao. Căn cước vùng miền bao giờ cũng thúc đẩy nhà văn lựa chọn tiếng nói đặc trưng, trong trường hợp sắc dân thiểu số, ngoài phong tục, nó thường phó mặc hoặc lồng ghép với thiên nhiên. Để xây dựng lời qui ước của thiên nhiên, cùng với việc duy trì cường độ màu sắc, Nghĩa có thêm những chiêu thức khác. Chiêu thức thứ nhất, chi phối cách hành văn dựa trên phép so sánh của Nghĩa, là nhìn con người trong hình thể thiên nhiên: “Mặt ông đen xạm như được đẽo ra từ tảng đá rửa chân cạnh máng nước lần ở đầu nhà”; “Sinh ra suối ngồi ủ rũ như cái lá héo trên phiến đá cả ngày”; “Quăm xé thịt nhai thản nhiên. Trông anh như vừa được đẽo ra từ một súc gỗ mốc meo bỏ quên trong thung lũng lâu ngày”… Với kiểu dạng hình thể đậm chất núi rừng, nói đúng hơn, núi rừng còn nguyên chất trong mỗi người, thì nhân vật của Nghĩa mang tính cách kép: hồn hậu, ngây thơ, cả tin và bạo liệt, hoang dại. Cái tính cách kép khiến nhân vật luôn có những hành động bất ngờ, khó lường y hệt thiên nhiên thân quen mà khó đoán định. Nhưng có điều chắc chắn rằng, giữa sự chung đụng bí ẩn chất rừng chất người, cái chết thường xuất hiện như một hệ số, mà đáng nói thay, khá nhiều trong văn Nghĩa. Phải chăng tước đoạt chất người, sự sống người là ý muốn, qui ước của núi rừng ? Điều đó dẫn đến chiêu thức thứ hai, thể hiện quan điểm/tư tưởng của Nghĩa, là xây dựng chất người như là thiên nhiên: “Tôi nhảy vọt lên bờ, và cứ tồng ngồng mọi rợ như thế, tôi chạy như điên quanh bãi cỏ, gào rống như con thú bị chọc tiết […]. Đến lúc mệt đứt hơi, tôi ngã xuống cỏ, trần truồng và lấm láp”, “Có lúc một ý nghĩ man dại nào đó bùng lên, Sểnh Mẩy nhảy phắt lên ngựa” (Lá Vàng Chải); “… nhào lên một tảng đá gồ ghề nổi trên mặt nước, người đàn ông đã bốn nhăm tuổi này nhảy múa như một hung thần. Một điệu vũ man rợ và trần truồng” (Trăng trên rừng tông qua mu). Đã thành nếp, Nghĩa chọn cái chất “trần truồng và mọi rợ/man rợ/man dại” để con người đến gần với núi rừng, để được là núi rừng. Điều đó, theo tôi, là một xúc cảm lành mạnh, bởi trật tự xã hội luôn dìm kín con người dưới bộ dạng nhập vai/đóng vai/tròn vai, nên được “trần truồng” là diễm phúc chứ sao! Hay nói như Nghĩa: “Loài người bây giờ tỉnh táo quá, hồn hoa em không gần được. Chỉ có anh là sống sơ giản, gần với cỏ cây” (Hoa cẩm tú cầu ứng mệnh). Muốn được loài hoa cẩm tú cầu ứng mệnh, muốn được nhập vào cõi phiêu linh sắc màu, tâm hồn và thân xác anh phải thật sơ giản như thể núi rừng sinh ra đã vậy. Chất núi rừng là thứ mà con người thèm muốn, cũng là cái barie mà con người nhọc lòng vượt qua. Nhưng trên hết, nó cứu rỗi con người, tái sinh chất người trong bền bỉ thầm lặng: “Lúc phẫn uất thì nghĩ đến đủ thứ, kể cả việc treo cổ lên cây hay lao đầu xuống thung lũng, nhưng không hiểu sao cứ đến với rừng, nghe tiếng rì rào ấm áp của nó, Hiên lại thấy vợi cả nỗi lòng. Con người có lúc độc ác, nhưng cây cối lúc nào cũng hiền” (Đường về xa lắm). Tin vào cây cối, tin vào chất núi rừng là niềm tin chỉ có ở chất người thơm ngát, trong vắt, sạch tinh. Lời qui ước này, dù nổi bật hay chỉ ló dạng trong tập truyện, cũng có thể coi là một nét phẩm cách văn Nghĩa.

Trước những nghịch dị văn hóa, bênh cạnh lời qui ước của thiên nhiên, trí tưởng tượng và kí ức luôn bay cao hơn cả. Nó là điểm nhấn đẹp, hấp dẫn trong văn Nghĩa, bù đắp cho việc thiếu hụt các sự kiện, dữ kiện của đời sống hiện đại. Trí tưởng tượng mang lại một không gian huyền hoặc, phảng phất tư duy thần thoại mà không ít trong số này, tách biệt hẳn với lớp lang câu chuyện. Đó là cái chết của Thắm, một “gái đĩ”, được mô tả như nghi lễ hóa trong huyền tích Mẫu “xác người cứ nhẹ như sương” (Trên đồi lập lòe ánh lửa), là hình bóng và hành tung bí ẩn của người con gái Mán Đỏ như là đứt đoạn của những ám ảnh về các nữ thần sơn cước (Lá Vàng Chải), là loài Tông qua mu, hoa cẩm tú cầu khơi gợi ý niệm vạn vật hữu linh thuở khai thiên lập địa… Rõ ràng, trong ước muốn được thanh tẩy, trở về với bản thể núi rừng, trong thứ cảm xúc lãng mạn thuần túy, Nghĩa đã đẩy trí tưởng tượng đi sâu vào những chi tiết li kì, lảng tránh giới hạn logic lí trí thông thường. Khi mà trên văn đàn hiện thời đầy những “khoảng trống vắng, rã rời […] Thiếu một căn cốt chiều sâu. Thiếu một sâu sắc tư tưởng” [[4]] và theo tôi, thiếu cả trí tưởng tượng bay bổng, thì việc Nghĩa giữ được niềm say mê đối với thế giới huyền hoặc là cách thay đổi khẩu vị văn chương. Và dẫn đến sự khác biệt này: trong khi đa số các cây bút trẻ có xu hướng vay mượn hình thức văn học phi lí với motip “người hóa vật” hoặc đồ vật hóa, nhãn hiệu hóa ngôn ngữ để diễn tả một xã hội tiêu dùng, kĩ trị trương phình thì Nghĩa (thuộc về số khác còn lại) chọn tiếng nói kí ức, hoài niệm, mơ mộng để bảo lưu tính nhân lòng thiện của con người [[5]]. Kí ức, đối với nhân vật của Nghĩa, làm nguôi ngoai những vết thương thành thị (Đường về xa lắm), để thương nhớ đất đai bằng hữu ( gái xuống ga Vĩnh Yên) và “cả tin đến đau lòng” (Thương nhớ Lèng Hồ)… Đặc biệt, kí ức là hương hỏa cho một đời người cư ngụ, tìm thấy thân tâm vẹn nguyên tinh khiết (Cơn mưa hoa mận trắng). Theo đà này, xét cho cùng, kí ức mới là thứ mà nhân vật sở hữu một cách trọn vẹn và bền vững nhất. Phải vì thế mà, thật ngần ngại, khi nhìn vào mốc thời gian mỗi truyện ngắn của Nghĩa: 12 truyện ngắn đều ngả từ độ 2006 về trước, lúc anh còn là thầy giáo vùng cao; anh chững lại ở đầu 2007, thời điểm anh dấn thân kinh kì, làm biên tập viên mẫn cán. Nhưng người độc giả kiên nhẫn là tôi rất tin anh chững lại để tạo ra những đổi thay có nghĩa lí, kể cả khi anh vịn vào kí ức.

3.      Về một lối kể có ngưng nghỉ

 Nếu những gì nhân vật Hiên thú nhận là có thật, tôi cũng tin Nghĩa đã từng say mê Jack London, Flaubert và đặc biệt là Aimatov. Sẽ không khó nhận ra trong văn Nghĩa có chút phấp phới, tươi tắn vốn là chất giọng của Aimatov. Nhưng bắt đầu từ đây, Nghĩa gia tăng từ trường giọng văn của mình bằng chất thơ cất cánh. Cái nhìn màu sắc đã vận đến hệ lời có tính hội họa càng thích ứng với những nhạc điệu kèm theo. Nhiều câu văn của Nghĩa, hết sức cố ý, đứng tách riêng như cách lọc ra thanh âm đưa đẩy cảm xúc nhiều hơn là kể chuyện. Sắp xếp những câu văn ấy, thoạt tiên, chúng gây ấn tượng bởi độ ngắn, buông lỏng, thanh bằng áp đảo và liền sau đó, đúng như mô hình một bài thơ, chúng thoát khỏi rằng buộc trần thuật, đưa thông tin để tận hưởng tiếng nói cảm xúc trữ tình:

“Riêng nhà Thắm ở lưng chừng đồi

Hôm ấy là một buổi chiều đầy gió

Cả trái đồi xác xơ lau trắng

Đường về xa lắm

và gió sẽ thổi rỗng mấy dải đồi bạt ngàn bồ đề

… tôi vẫn nhớ đến người con gái đã sống cùng tôi ba ngày đêm trong ngõ hẻm phủ đầy lá rụng.

Sau mấy đêm mưa, cỏ ngải bốc xanh ngùn ngụt.”

Chính những câu văn với căn tính thơ như vậy, đính dày trong truyện, đã làm văn Nghĩa trội ở giọng và nhịp, ở những nơi câu chữ thăng hoa nhờ sự luyến láy, nhấn nhá. Hệ quả là, lối kể trở nên bất liên hoàn, mạch kể có ngưng nghỉ, đôi khi chỉ miết theo từng chi tiết mà bỏ quên cái lõi của chuyện. Nhưng đáng nói hơn, góp phần tạo nên sự ngưng nghỉ này còn do văn Nghĩa tràn ngập phép so sánh. Bằng phép so sánh, Nghĩa không chỉ thành công trong phương diện tạo hình, biểu hiện khung cảnh thiên nhiên mà còn đẩy xa những liên tưởng, thỏa mãn trí tưởng tượng bay bổng. Lối viết dày kín so sánh, tuy cổ điển, nhưng do Nghĩa biết cách điều chỉnh nên vẫn có khí vị tươi mới. Cách điều chỉnh đó là: tăng cường những so sánh đánh mất tính cụ thể. Thông thường, phép so sánh sẽ cho ta nhận cái cụ thể từ những gì trừu tượng, và Nghĩa cũng không thiếu (tỉ như:“Cô bé xinh lạ lùng, răng như những hạt ngô non, khuôn mặt có sắc trắng của hoa mận, mầu hồng của hoa đào”), nhưng khi đánh mất tính cụ thể, phép so sánh chỉ là cái bình để người viết đổ đầy những liên tưởng mơ hồ, những khoái cảm ngôn từ mạnh về cảm giác. Và Nghĩa ưa thích lựa chọn cách này, chẳng hạn, đa số: “Xa xa, mặt hồ biêng biếc như làn hơi mờ trắng phủ nhòa miếng kính xanh”; “Tiếng đàn ghita bập bùng như vó ngựa lướt trên mặt hồ đêm” (Lá bạch đàn); “Con đường mới rải đá trắng tinh như được lát bằng những phiến trăng” (Lá Vàng Chải); hi hữu: “Không biết vì sao chuyện Tú tỏ tình với May loang khắp đồi như mùi hoa dạ hương” (Hoa cẩm tú cầu ứng mệnh). Phép so sánh trong câu văn đột ngột làm người đọc sa vào cuộc tìm kiếm cảm giác mà trên tay bỗng mất dần dấu vết câu chuyện.

Nhưng đấy cũng là lúc, tôi nghĩ, Nghĩa phải thấy rằng, khoái cảm của ngôn từ thường làm ta mang tình lưu luyến nhiều hơn là bị cứa động tâm trí vì một sự thách đố tư tưởng sâu xa.

HN, 2010

M.A.T

(Đăng ở Tản Viên Sơn)


 [[1]] Phạm Duy Nghĩa, 12 truyện ngắn. Nxb Lao động, H.2010. Những trích dẫn truyện ngắn của Phạm Duy Nghĩa lấy từ tài liệu này.

 [[2]] Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Nxb Văn học, H.2004, tr.286

 [[3]] Xem thêm C.Lévi Strauss, Chủng tộc và lịch sử. Huyền Giang dịch. Hội Khoa học lịch sử, H. 1996, tr.89

 [[4]] Phạm Xuân Nguyên trong Lời giới thiệu Truyện ngắn 198X, nhiều tác giả. Nxb HNV, H.2008.

 [[5]] Motip “người hóa vật” mà văn xuôi trẻ Việt Nam vay mượn, chế tác, có thể tìm thấy trong các truyện: Hắn lại vào toilet của Lynh Barcadi, Giăng mắc của Phạm Vũ Khoa, Khung cửa sổ của Ngọc Cầm Dương…; việc đồ vật hóa, nhãn hiệu hóa trong ngôn ngữ là một thực tế phổ biến, tiêu biểu như các truyện: Rỗng của Từ Nữ Triệu Vương, Những đống lửa trên vịnh Tây tử của Trang Hạ, Dạ khúc và trò chơi điên khùng giữa khu vườn bí mật của Khương Hà… Về cơ bản, xu hướng tìm về hoài niệm và kí ức có thể thấy nổi bật ở truyện ngắn của Nguyễn Thị Cẩm, Trần Hoàng Trâm… [Khảo sát trên ba tập: Truyện ngắn 198X; Vũ điệu thân gầy; 5 mùa yêu].  Và dĩ nhiên, xu hướng này đậm đặc trong văn của Nguyễn Ngọc Tư, người cùng thế hệ với Phạm Duy Nghĩa.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s