Chân dung thơ: Hoàng Nhuận Cầm


* Sinh ngày 7 tháng 2 năm 1952

* Quê quán: Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội.

* Hội viên Hội nhà văn Việt Nam (1981)

* Hiện nay làm việc tại Hãng phim truyền hình Việt Nam.

* Tác phẩm:

Thơ tuổi hai mươi (In chung, 1974)

Những câu thơ viết đợi mặt trời (1983)

Xúc xắc mùa thu (1992)

Thơ với tuổi thơ (2004)

–  Một số kịch bản phim: Lầm lỗi, Đằng sau cánh cửa, Đêm hội Long Trì, Hà Nội – mùa đông năm 46, Pháp trường trắng, Đoạn trường chiêm bao, Nhà tiên tri, Mùi cỏ cháy…

* Giải thưởng văn học: Giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972 – 1973; giải thưởng HNV VN với tập Xúc xắc mùa thu (1993)

Khởi sự, Hoàng Nhuận Cầm đã là con người tài hoa lãng mạn, bởi tố chất này, ít nhiều ông tiếp nhận từ cha mình, nhạc sĩ Hoàng Giác, người, trước ngày nổ ra chiến tranh Việt – Pháp, đã làm xao động Hà Nội bởi nhạc phẩm đầu tay Mơ hoa. Hoàng Cầm, về sau, như là một định phận, cũng làm xao động tuổi hoa niên kinh kì bởi những thi phẩm viết về phố, về kỉ niệm sân trường… Thể như, Hà Nội, đã và mãi là giai điệu phong cầm trữ tình êm dịu chảy tràn từ thuở ấu thơ đến tận bây giờ nơi gác nhỏ phố Hàng Bạc của Hoàng Nhuận Cầm. Năm 1971, đang học khoa Văn Đại học tổng hợp, Hoàng Nhuận Cầm tình nguyện nhập ngũ, chiến đấu ở các mặt trận Quảng Bình, Vĩnh Linh, Thừa Thiên. Bốn năm khoác áo lính cũng là quãng thời gian định hình gương mặt Hoàng Nhuận Cầm trên thi đàn với chất giọng tuổi nhỏ, tinh khiết, hồn nhiên. Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu, Hoàng Nhuận Cầm tự thú nhận: “Mùa khô ơi, mùa khô thân yêu/ Dẫu hòn bi lăn hết vòng tuổi nhỏ/ Nhưng trong ba lô kia, ai bảo là không có/ Một hai ba giọng hát chú ve kim ?” . Từ đây, hành trình thi ca Hoàng Nhuận Cầm là những tuổi hai mươi trở đi trở lại, tựa như kí ức không chịu già, ngày một nhuận sắc với vẻ đằm thắm, nồng đượm, hấp dẫn. Sau Những câu thơ viết đợi mặt trờiXúc xắc mùa thu, khoảng cách thời gian không làm thơ Hoàng Nhuận Cầm bớt đầy lên trong những cuốn sổ chép tay của học trò. Chỉ riêng với Xúc xắc mùa thu, Hoàng Nhuận Cầm đã tạo hẳn một lớp độc giả yêu, phụng thờ thơ mình như gìn giữ những nét trong trẻo một đi không trở lại của tâm hồn.

Quả thật, Hoàng Nhuận Cầm là thi sĩ của cung điệu trong trẻo, mơ mộng, lãng mạn. Anh không thể – ngay cả khi “chán lời vu vơ, giả dối”, làm đau, làm già đi cảm xúc. Cảm xúc trong thơ anh, trước sau, vẫn là chiếc lá đầu tiên rất khó rời xa không gian kỉ niệm mà nó chứng kiến. Chiếc lá đầu tiên cũng là dòng cảm xúc thứ nhất, thủy nguyên, cho dù nó đã “đi qua tất cả mối tình câm/ Mối tình nói và mối tình bỏ dở”. Trong dòng cảm xúc này, hoài niệm là điểm khởi đầu, cũng là điểm trung tâm. Hoài niệm sân trường, góc phố, hoài niệm cả “những thời vô tội”, giấc mộng Schumann, với những lỡ hẹn “mang tội với con tàu”… Hoài niệm cũng là cách để bảo hiểm cho cái tôi khỏi giật mình trước những đổi thay, những sa ngã vốn giăng đầy trong cuộc đời: “Anh nhớ quá! Mà chỉ lo ngoảnh lại/ Không thấy trên sân trường chiếc lá buổi đầu tiên”; “Ta đã đi như mèo trên phố vắng/ Gọi tên con như gọi các thiên thần/ Có một nốt không bao giờ con biết tới/ Là nốt buồn cha đã nuốt thay con (Nhớ ngày mai)… Cứ như thế, bằng cảm ứng “đi qua” này, cảm xúc hoài niệm có lúc sâu lắng ưu tư: “Và như thế mười năm bớt dại/ Nỗi khôn ngoan ám sát tuổi học trò/ Cà phê rót đầm đìa qua phượng đỏ/ Ngày cuối cùng ta vứt hết ngây thơ” (Đêm nay); có lúc bâng khuâng ngậm ngùi: “Quả tim anh như căn nhà bé nhỏ/ Gió em vào – nếu chán – gió lại ra”… Dao động giữa ưu tư và hồn nhiên, cái tôi trữ tình như đứa trẻ không chịu lớn, nó sợ hãi những mất mát đã và có thể xẩy ra, nó vừa bước tới cái đang hò hẹn thì vội im lặng tiếc nuối bởi một kí ức chưa xa “cướp” mất cả lời muốn nói. Rút cuộc, cái tôi ấy, quả đúng, đã “Anh một mình – Náo động – một mình anh” trong chính tâm trí mình, như thể kiếm tìm và rất khó có đồng vọng. Chân thật tường giải cảm xúc, ở góc độ cảm quan, là một cách thế sống trọn vẹn với nhu cầu/yêu cầu không toan tính mọi thứ trên đời.

Trong khuôn khổ những câu thơ tám chữ đều đặn, nhịp điệu là tiết điệu cảm xúc, cấu trúc thơ là cấu trúc kể, hoài niệm, thơ Hoàng Nhuận Cầm lệch nghiêng về kiểu thơ truyền thống, nơi các thể thức thơ lãng mạn vẫn tọa lạc để điều đình cách viết. Nỗ lực của Hoàng Nhuận Cầm trong cuộc điều đình đó, như đã nói, là đem lại nét tươi trẻ, đằm dịu, tinh khiết của một đời sống tuổi trẻ lãng mạn. Anh thi vị hóa những hình ảnh thân quen (hoa súng, chùm phượng hồng, viên xúc xắc…) và mượt mà ngay cả lúc nói về nỗi buồn, cái chết (Một mai chết thật âm thầm/ Mấy cành cỏ dại khẽ trầm ngâm ru…). Cũng có khi, ngay giữa những câu thơ ballad trữ tình, Hoàng Nhuận Cầm đột nhiên chạm trổ những câu chữ điệu đà. Quá tay, nó làm mất vẻ tự nhiên, nhưng nếu non tay, nó tạo vùng “giảm xóc” cảm xúc gây dị ứng. Thật may, sự bất thường không là thường xuyên và thơ Hoàng Nhuận Cầm vẫn đồng hành với độc giả tuổi hai mươi trong tâm thế say đắm bình an.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s