10 năm – 10 cuốn sách Việt (P.2)


Mình ra Hà Nội nhập học đại học được mấy ngày thì xẩy ra vụ khủng bố 11/9 ở nước Mỹ. Hồi đó mình chưa có thói quen đọc báo nhưng tivi đưa tin liên tục. Thực ra, lúc ấy thấy cảnh tòa nhà tháp đôi ngùn ngụt lửa khói, mình vẫn chưa hề hình dung về một thế giới bất an, chưa hề hiểu ném bom – khủng bố là gì. Và đương nhiên, chưa thể tận mắt chứng kiến thông tấn vỉa hè ở Hà Nội hoạt động mạnh mẽ, nhanh chóng ra sao. Những chuyện đó, về sau, vào thời kì Mỹ tấn công Iraq hay Obama trúng cử tổng thống, mình có dịp thu nhận hết sức sâu sắc. Nước Mỹ vào thập niên qua, trong cảm nhận của mình, là tác nhân trực tiếp làm cho báo chí và đời sống thị dân của Việt Nam luôn trở nên được hâm nóng, được căng thẳng và được giải trí một cách thỏa mãn.

Những cuốn sách nước ngoài khi được dịch sang tiếng Việt, về mặt nào đó, có thể ví von như là những cuộc khủng bố. Nhất là những sách thiên về khoa học nghiên cứu, thiên về tư tưởng học thuật. Bởi đọc và đọc thủng được nó, người ta luôn có cảm giác đang trải qua những vụ nổ trong đời sống tinh thần, tư tưởng của mình. Sự chu du qua năm tháng của một cuốn sách lớn thực sự là sự tồn tại của một kẻ khủng bố siêu hạng. Nó không chỉ đem đến khả năng giải tỏa tình trạng u mê, tăm tối đám đông mà còn có thể gây nên sức hấp dẫn, quyến dụ liên tục. Với điều kiện văn hóa xã hội như Việt Nam, không ít cuốn sách vẫn bị “cấp trên” đưa vào danh sách nghi ngờ khủng bố với nghĩa đen hoàn toàn: gây ra thiệt hại, làm bất ổn đời sống.

Tiếp tục mạch cảm hứng nhìn lại 10 năm (2001 – 2011), lần này mình đưa ra danh sách 10 cuốn sách nước ngoài được dịch sang tiếng Việt từng “khủng bố” tinh thần mình. Sau mỗi lần đóng vai trò là nạn nhân, mình mới vỡ lẽ ra đôi điều. Ngoài điểm chung là được dịch sang tiếng Việt, 10 cuốn sách này đều là sách nghiên/khảo cứu.

  1. Đi tìm sự thật biết cười (Umberto Eco, 2003. Vũ Ngọc Thăng dịch): Một cuốn sách không dễ đọc. Nhưng là cuốn sách có thể trích dẫn trong nhiều lĩnh vực: hậu hiện đại, mĩ học, văn học, sách – xuất bản… Sự thật biết cười là sự thật gây choáng váng nhưng khiến đầu óc con người bớt đi những ảo tưởng, mơ mộng hão huyền, những nhăng nhít để tập trung làm việc, sáng tạo. Cuốn sách cho ta một sự khỏe khoắn trí tuệ.
  2. Lý thuyết và thi pháp tiểu thuyết (M. Bakhtin, 2003, in lần thứ 2. Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch): Tập hợp các bài nghiên cứu của một trong những nhà nghiên cứu văn học có ảnh hưởng lớn, M. Bakhtin, đặc biệt ở thể loại tiểu thuyết. Kể từ cuốn này thì đi đâu cũng thấy “Bác Tin” được trích dẫn, được lấy làm sang. Mình cũng yêu thích “Bác Tin” nhưng chưa trích dẫn bác ấy lần nào cả. Có lẽ với mình, những phân tích của Bác Tin có ý nghĩa hỗ trợ, gợi dẫn trong khi xây dựng cách viết hơn là hiểu về cách viết.
  3. Giao cảm. Bề trái và bề mặt (Albert Camus, 2004. Trần Thiện Đạo dịch và giới thiệu): Về mặt thể loại, cuốn này có tính chất tiểu luận xen tùy bút. Albert Camus viết những bài này lúc mới đôi mươi. Nói chung tuổi 20 thì ai cũng muốn nói, viết thật đúng với lòng mình, với trạng huống đời sống của mình đương trải qua. Bởi thế, đọc cuốn này, mình thấy tuổi trẻ nào cũng viễn vông, cay đắng, u buồn. Một quá trình trưởng thành như thế, ít ra, sẽ cần thiết với người viết biết bao.
  4. Thi pháp văn xuôi (Tzvetan Todorov, 2004. Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch): Nghiên cứu thi pháp văn xuôi qua những chỉ dẫn cụ thể là điểm nổi bật của cuốn sách này. Todorov có khả năng của nhà thực hành hơn là nhà lí thuyết. Bởi thế ông chọn văn bản với cái nhìn thực chứng. Trong khi thực chứng, Todorov biến các tri thức văn chương cá nhân thành một quyền uy của thuyết phục, dẫn dắt.
  5. Tri thức tôn giáo qua những vấn nạn và giải đáp (John Renard, 2005): Rất nhiều vấn nạn tri thức tôn giáo được giải đáp hết sức cụ thể trong cuốn sách này. Trước khi trích dẫn một tôn giáo nào, thiết nghĩ, nên tìm đọc những cuốn như thế này. Sự minh bạch hóa thông tin, dù ở cấp độ rút gọn, vẫn giúp cỗ máy hệ thống tri thức đi được xa hơn. Mình đánh giá cao cuốn này vì nó có cung cách của người minh bạch.
  6. Không tưởng và thức tỉnh (Claudio Magris, 2006. Vũ Ngọc Thăng dịch): Sau khi bị Stefan Zweig làm cho mê mẩn bởi cuốn Ba bậc thầy (viết chân dung ba nhà văn Dostoievsky, Balzac và Dicken), mình tưởng chẳng còn gặp lại cách viết nào như thế. Nhưng với Không tưởng và thức tỉnh, mình vẫn có cơ hội được thưởng thức cách viết chân dung văn học, cách bình luận tác phẩm văn chương rất độc đáo, hấp dẫn. Không quá hàn lâm hóa nhưng Magris không dọn sẵn các kết luận. Ông vẫn huy động được tri thức bậc cao cần thiết để chinh phục người đọc khó tính. Đọc Stefan Zweig, Claudio Magris rồi thì chỉ ước sao Việt Nam có được người viết hay như thế. Ước rất nhiều!!!
  7. Bản mệnh của lí thuyết (Antonie Compagnon, 2006. Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch): Những vấn đề lí thuyết văn chương đã được bàn lại, bàn thêm với cái nhìn thương lượng với các di sản. Người ta có thể tham vọng lí thuyết nhưng bản thân lí thuyết vẫn đầy giới hạn và bất khả thể.
  8. Nietzsche – cuộc đời và triết lí (Felicien Challaye, 2007. Mạnh Tường dịch): Định không đưa cuốn này vào. Vì cái tên Nietzsche ở cuốn sách có thể gây hiểu nhầm rằng đang chạy theo mốt tái hâm mộ triết gia này. Nhưng thực ra, khi kích cỡ của một đối tượng chưa bị/được giải mã hết thì bám theo đối tượng đó cũng khiến trí óc bạn trở nên lanh lợi. Việc đọc Nietzsche trong tiếng Việt, bao gồm cả trước tác của chính ông và trước tác về ông, sẽ không làm mất tư thế chậm, lỡ bước của tri thức. Chính vì lí do rằng, nhu cầu kiểm chứng mức độ lanh lợi của ý nghĩ đến đâu nên mình đã tìm đọc Nietzsche với thái độ chậm nhất có thể. Điều cuối cùng nhưng chắc chắn sẽ phải nghĩ đến đầu tiên ấy là: không có gì quá muộn!
  9. Nghệ thuật điện ảnh (D. Bordwell/K. Thompson, 2008): Một cuốn giáo trình về nghệ thuật điện ảnh, rất thiết yếu cho những ai quan tâm đến loại hình nghệ thuật này. Đặc điểm của hầu hết các cuốn giáo trình ở Việt Nam là luôn luôn đổ đầy các khái niệm và cố gắng phức tạp vấn đề để chặn đứng khả năng hiểu ngay, thực hành ngay của người học/đọc, trong khi, giáo trình nước Mỹ, như cuốn này, lại hướng về mục đích cầm tay chỉ việc, rèn luyện kĩ năng ứng dụng một cách hiệu quả nhất. Một người đọc ở mức độ nhập môn cũng có thể vận dụng vốn tri thức từ cuốn giáo trình này. Bởi thế, nếu phải trả lời câu hỏi làm thế nào để nâng cao chất lượng phê bình điện ảnh ở Việt Nam, thì trước hết người viết hãy chịu khó tìm đọc Nghệ thuật điện ảnh.
  10. Nhiệt đới buồn (C. Levi Strauss, 2009. Ngô Bình Lâm dịch): Khi nó được dịch sang tiêng Việt, mình cũng vừa tuổi 28. Câu hỏi làm tuổi trẻ đau đầu là phải khởi sự như thế nào. Xác định một lối đi như thế nào, hay ít ra, là định hướng vài bước chân xuất phát, đều không phải là thứ dễ chịu. Nó ở đó, trong từng ngày hiện hữu, với mức độ khiêu khích tăng dần, làm cho cơ thể của bạn nóng lên, co thắt, đắng chát. Cuộc tìm kiếm các ngã rẽ, điểm mút, giới hạn, quang cảnh sơ khai hay đã cạn kiệt phát hiện…, vẫn chưa đến hồi viên mãn chừng nào, hết sức đơn giản, khi tâm hồn vẫn cần đến lẽ phải.

Advertisements

3 responses to “10 năm – 10 cuốn sách Việt (P.2)

  1. Tuấn ơi! Thế không có “Nghệ thuật tiểu thuyết -Những di chúc bị phản bội” của M.Kundera à?

    • M.A.T chọn 10 cuốn ở các lĩnh vực khác nhau. Về lí luận tiểu thuyết thì thấy cuốn của Bakhtin có tác động với MAT nhiều [tại thời điểm đó]. Cuốn của M.Kundera mà Lê Hà vừa nêu, cũng như vài cuốn khác của M.K, quả thật, vẫn luôn hấp dẫn và không khi nào rời khỏi tủ sách yêu thích của MAT. Cảm ơn Lê Hà

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s