10 năm – 10 cuốn tiểu thuyết tiêu biểu (P.3)


Một cơ hội để văn chương hiện đại chứng tỏ tiềm năng và quyền lực của mình đấy chính là sản xuất tiểu thuyết. Một kế sách để lịch sử văn học không trở nên tẻ nhạt và khiếm khuyết đấy chính là trao sứ mệnh chinh phục thể loại cho tiểu thuyết. Một cuộc đọc không nên ngưng nghỉ dù phải gặp thách thức ấy là tiểu thuyết. Một ham muốn công khai hoặc ngấm ngầm nhưng không dành cho số đông ấy là lao động tiểu thuyết…  Đọc tiểu thuyết là một cuộc đọc không dễ dàng. Ngoại trừ những cuốn tiểu thuyết bị coi là ba xu thì phần lớn những tiểu thuyết tầm cỡ đều kêu gọi cuộc tái đọc (rereading) ở bất cứ thời điểm nào. Nhìn theo hướng này thì, tiểu thuyết là sự không kết thúc của cuộc viết.

Tiếp tục mạch nhìn lại 10 năm (2001 – 2011), lần này mình chọn ra 10 cuốn tiểu thuyết tiêu biểu đã góp phần tạo ra cuộc đọc và cuộc sống có ý nghĩa đối với mình. Điểm chung của 10 cuốn tiểu thuyết này là nó đều được xuất bản tại Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI dù năm sinh của nó có thể lùi xa trước đó rất nhiều. Tỉ lệ 05 cuốn của người Việt và 05 cuốn của tác giả nước ngoài cũng là cách để có sự cân đối cần thiết. Trong khi làm điều này thì vẫn có ưu ái cho sự đa dạng các ngôn ngữ, các tiếng nói. Bởi thế, thứ tự liền kề các năm đã không được duy trì như hai lần bình chọn trước.

  1. Cái trống thiếc (Gunter Grass – Đức. Nxb HNV, H.2002): Viết năm 1959. Đến năm 1999 thì tác giả của nó, Gunter Grass được nhận giải Nobel văn học, đánh dấu sự trở lại của người Đức trên thảm đỏ của Viện hàn lâm Thụy Điển. Cái trống thiếc gây ám ảnh bởi khả năng tạo nên chuỗi biểu tượng về thời Đức quốc xã mà nhờ nó, ta hình dung rõ ràng cuộc trở về quá khứ như một nhu cầu lương tri thường trực của người Đức hiện tại.Vượt qua những mô tả, ghi chép thông thường về thể chế Đức quốc xã, Cái trống thiếc tiến hành dò thấu tâm tưởng của con người Đức lúc đó mà điểm nổi bật là cảm quan bất an trước thế giới. Từ tầm cao 90cm của cậu bé Oskar, nhân vật chính của tiểu thuyết, thế giới trở nên thật xô lệch, méo mó, dị kì. Chối từ cuộc sống người lớn, chối từ sự lớn lên của cơ thể, Oskar đại diện cho một nước Đức bị lí trí siết chặt nhưng đồng thời, cũng là hiện thân của nước Đức bất khả luận giải quá khứ, lịch sử. Bi kịch của Oskar chỉ có thể giải thoát bằng cách hét thật to. Hét – mãnh lực của nội tâm, đã trở thành phương châm sống của mình, mỗi khi đuối sức.
  2. Cây không gió (Lý Nhuệ – Trung Quốc. Nxb Văn học, H.2004): Không phải là Mạc Ngôn, không phải là Giả Bình Ao hay ông Cao Hành Kiện có quốc tịch Pháp, nhà văn Trung Quốc đương đại mà mình yêu thích là Lý Nhuệ. Những tiểu thuyết, truyện ngắn của Lý Nhuệ dịch ra tiếng Việt có thể không có lượng độc giả đông đảo nhưng không vì thế mà đánh giá thấp văn chương Lý Nhuệ. Ông có khả năng thêu dệt, nhào nặn ngôn ngữ ở mức điêu luyện khiến chất văn chương luôn bám riết người đọc. Cây không gió là một Trung Quốc bất thường, một Trung Quốc bị bỏ rơi, bị lãng quên và cô độc. Người ta không thấy ở đó tính dân tộc chủ nghĩa bành trướng mà chỉ bắt gặp nỗi buồn thương vời vợi của một dân tộc có rất nhiều khiếm khuyết, tội lỗi.
  3. Ruồng bỏ (J.M. Coetzee – Nam Phi. Nxb Phụ nữ, H.2004): Coetzee đến Việt Nam có lẽ đầu tiên ở cuốn này, và cũng đáng nhớ nhất ở cuốn này. Giải Nobel văn học đã đánh giá đúng văn phong Coetzee nổi bật ở sự tiết chế, ở cách diễn đạt cốt sao cho thật chính xác suy nghĩ, cảm xúc. Ruồng bỏ mang đến hình ảnh Nam Phi đầy mâu thuẫn, bạo lực, tủi hổ. Ở một không gian như thế, thái độ khoan dung, nhân ái dường như sẽ là giải pháp tối ưu để làm lành các vết thương, đặng giúp con người duy trì cuộc sống một cách nhẹ nhõm và có hi vọng hơn. Ruồng bỏ và các cuốn khác của J.M. Coetzee: Giữa miền đất ấy; Cuộc đời và thời đại của Micheal K có thể xếp vào các tiểu thuyết dịch tốt nhất của Việt Nam thập niên qua. Mình nhớ như in, vào buổi chiều cuối năm rét lạnh, sau khi nhâm nhi thời gian bằng ngôn ngữ im lặng, một người đẹp đã thao thao kể mình nghe về Ruồng bỏ nhưng với cái tên khác: Thất sủng!
  4. Thoạt kì thủy (Nguyễn Bình Phương – VN. Nxb Văn học, H.2005): Một cuốn tiểu thuyết ngắn của Nguyễn Bình Phương, một xu hướng cách tân tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Nguyễn Bình Phương muốn dựng một hồ sơ nhân tính thông qua luận đề: nhân chi sơ tính bản ác. Cái ác là một nhân tính. Đọc cuốn này, mặc dù không quá hấp dẫn ở ngôn ngữ kể chuyện như các tiểu thuyết khác của Nguyễn Bình Phương, thì vẫn thấy khả năng đi sâu vào cõi vô thức, cõi mờ của lí trí vốn là sở trường của nhà tiểu thuyết. Thoạt kì thủy sẽ cản trở lối tiếp cận nhân quả trong đạo đức. Và nó cũng cản trở những ai tin vào khả năng hoàn lương của con người.
  5. Paris 11 tháng 8 (Thuận – VN. Nxb Đà Nẵng, 2005): Nhìn đi ngắm lại thì Paris 11 tháng 8 vẫn là cuốn tiểu thuyết hay nhất của Thuận đến giờ phút này. Chinatown trước đó thì mạnh về kết cấu, về ngôn ngữ. Về sau VânVy thì mới mẻ về đề tài còn T mất tích dường như hơi khiên cưỡng. Chỉ có Paris 11 tháng 8 là thực sự ghi dấu một tiểu thuyết đặc sắc trong tiến trình tiểu thuyết Việt mười năm đầu thế kỉ. Nổi bật ở khả năng dung hợp thể loại, ở cách thức qui đổi thân thận, ở giọng điệu giễu nhại gây nhiễu tâm, Paris 11 tháng 8 đã thỏa mãn những ai chờ đợi yếu tố mới lạ và đồng thời, chờ đợi tiếng nói ngoại biên của văn chương.
  6. Ba người khác (Tô Hoài – VN. Nxb Đà Nẵng, H.2006): Một trò chơi văn chương đáng xem là có nghề của tay viết lão luyện. Ba người khác không có gì đáng kể về bút pháp nhưng vẫn duyên dáng và có khả năng giải trí cao độ. Khi một người viết biết kể chuyện, anh ta sẽ biến những thứ tạp nham, vặt vãnh thành những điều hấp dẫn, sinh động. Ba người khác ăn khách không phải vì vùng cấm kị – cải cách ruộng đất được mô tả như chuyện động trời mà chủ yếu vì nó phơi bày rất thành thực trạng thái mọi rợ của một quá khứ chưa xa. Nếu tiểu thuyết ba xu có thể mua vui thì những tiểu thuyết dạng này vẫn kéo dài thêm vài trống canh nhờ sự tinh quái của nó.
  7. Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh – VN. Nxb VHDT, ): Một cuốn tiểu thuyết khó đọc hiếm hoi của Việt Nam thời gian qua. Khó đọc dường như là điều còn thiếu của tiểu thuyết Việt. Tôi muốn nhấn mạnh mức độ khó đọc là do những đổi mới trong nghệ thuật tiểu thuyết, trong tầm cỡ tư tưởng và ý nghĩa của tác phẩm. Đi tìm nhân vật nằm trong chuỗi cái viết theo hướng hiện đại mà Tạ Duy Anh nỗ lực duy trì từ Thiên thần sám hối; Gã và nàng; Giã biệt bóng tối; Cái viết của Tạ Duy Anh tạo ra một khoảng cách khá lớn với lối viết truyền thốn. Bởi thế, cái sự khó đọc tiểu thuyết Đi tìm nhân vật cũng là cách chống lại truyền thống ưa kể chuyện và truyền tải thông điệp.
  8. Rừng Na-Uy (Murakami Haruki – Nhật Bản. Nxb Văn học, H.2008): Viết năm 1987, trở thành sách bán chạy. Và vẫn rất chạy khi xuất bản ở Việt Nam. Một cuốn tiểu thuyết của tuổi trẻ, của tình yêu và nỗi buồn. Một cuốn tiểu thuyết chạm vào cơ thể và kí ức người đọc về sự bất toàn mà đời sống có thể phủ ập lên bất kì ai. Thiết nghĩ Rừng Na-uy sẽ còn trụ lại rất lâu ở Việt Nam vì bối cảnh văn hóa và tâm lí tiếp nhận của người Việt đang trong lúc biến đổi. Sự biến đổi ấy dĩ nhiên vừa có năng lượng để bước tới nhưng cũng tạo ra những hố sâu ngăn cản thế hệ. Điều đáng buồn là người trẻ Việt không có một cái tôi đủ lớn, không có một cảm niệm đủ sâu sắc về tình yêu, tuổi trẻ. Và đặc biệt, về nỗi buồn.
  9. Bay trên tổ chim cúc cu (Ken Kesey – Mỹ. Nxb  Văn học, H.2010): Một cuốn tiểu thuyết đầu tay đáng ngưỡng mộ. Năm 1962, Ken Kesey, lúc ấy mới 27 tuổi, nghĩa là nằm gọn trong giai đoạn nổi đình nổi đám của phong trào hippie, dựa trên những trải nghiệm cá nhân, đã mô tả chi tiết và đầy ám ảnh khung cảnh một nhà thương điên, nơi những bệnh nhân tâm thần hoặc bị coi là tâm thần phải sống dưới những luật lệ hà khắc vô nhân. Triết lí sống và cái cách vượt qua mọi rào cản của “người điên” McMurphy: “quan trọng là tôi đã thử” đáng được coi là ý thức dấn thân, chiến thắng sự ù lì của chính bản mình và kích thích những nội lực bị chết cứng của xung quanh. Bằng lối viết tả thực nghiêm khắc, giễu nhại tỉnh táo, Ken Kesey đặt thêm suy tư về những vấn đề tưởng chừng đã thấu hiểu: điên và bình thường; cá nhân và cộng đồng; tính thiện và dã tâm…Bay trên tổ chim cúc cu đã được chuyển thể thành phim và giành Grand Slam Oscar.
  10. Những ngã tư và những cột đèn (Trần Dần – VN. Nxb HNV, H.2011): Đúng là cơn tỉnh dậy của con hổ văn chương. Dăm năm lại đây, những người chết đã làm náo loạn văn đoàn mà Trần Dần là trường hợp điển hình nhất, cũng với cường độ cao nhất. Những ngã tư và những cột đèn gây choáng váng vì tính cách hiện đại không dễ gì đuổi kịp dù nó được viết cách đây hơn 40 năm. Một cuộc viết thầm lặng đã giúp Trần Dần tránh khỏi sự ồn ào và tạp nham của đám đông. Sự cô đơn trong sáng tạo ở trường hợp Trần Dần là tuyệt đối và cũng là đúng nghĩa trọn vẹn. Vì cô đơn, ông được tự do sáng tạo. Vì cô đơn, ông nhìn thấy rõ nhất những lúc nhúc xung quanh. Và cùng với tài năng cá nhân, nó là ngòi nổ cho cuộc chạy đua với chính mình đặng bắt kịp những dự án viết mà tham vọng không gì khác là vượt qua thời đại. Trần Dần của Những ngã tư và những cột đèn là nhà tiểu thuyết độc quyền tiền phong nửa sau thế kỉ XX.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s