Từ tiểu thuyết đến điện ảnh [P.2]


5. Về tiểu thuyết Người đọc

             Chưa đến hai trăm trang nhưng tiểu thuyết Người đọc (The Reader, 1995) có sức bao chứa một quá khứ dài rộng, nhất là khi, quá khứ ấy lại nhắc đến một trong những hình ảnh hãi hùng bậc nhất trong lịch sử nhân loại là hệ thống trại tập trung của Đức quốc xã. Giai đoạn lịch sử đen tối này hẳn là vết chàm bội nhiễm liên tục tái phát đối với nhiều thế hệ người Đức, kể cả khi họ không phải là chứng nhân hay đương sự can dự. Bernhard Schlink, tác giả tiểu cuốn tiểu thuyết, đã trở lại với vết thương quá khứ, không chỉ bằng kí ức được thả lỏng nên thật khó che giấu trong giọng điệu tự thuật nghiêm cẩn mà xúc động, mà còn bằng quan điểm và tâm tính của người luật sư, nghề nghiệp ông đương làm, nên thật dễ dàng nhận ra ánh nhìn phán xét, minh giải tội lỗi và các cảm giác đi liền cùng nó, là sự hổ thẹn, dằn vặt, đau đớn…  Câu chuyện bắt đầu từ thời hiện tại, từ lời kể 50 năm sau  Người đọc cho thấy không có nhiều cơ hội để chạy trốn quá khứ nhưng ít nhất, người trong cuộc đã kể lại nó, để hiện tại dù bi ai hay hạnh phúc, thì vẫn chứa đựng một sự giải thoát hữu ích.

 

            Về phim Người đọc

            Trên màn ảnh, phim Người đọc (2008) tiến sâu hơn vào mối tình dị biệt giữa hai nhân vật chính, Hanna Schmitz và Michael Berg, với cung bậc say đắm, lãng mạn,  nhưng càng về cuối, bộ phim đẩy cao các tình huống đặt câu hỏi, tra vấn lịch sử và đạo đức, mà đa số chúng đều vượt qua sức chịu đựng của cá nhân riêng biệt nào. Chia các lớp lang thời gian, xử lí các khuôn hình rất chuẩn mực, vẻ đẹp hình ảnh có thể làm mờ những cảm nhận về tội ác, phim Người đọc dường như chú trọng nhiều hơn đến cảm hứng nhân văn và sự trải nghiệm của các thế hệ mà cuốn sách đặt ra. Sự nhập vai tuyệt vời của Kate Winslet (vai Hanna) cũng là yếu tố thu hút khán giả. Rút cuộc, xem phim, người ta, thêm một lần nữa, thấy cần phải đọc lại cuốn sách như lời mời gọi khó cưỡng, để thêm tán dương cả hai rằng đó là nghệ thuật bậc cao đích thực.

6. Về tiểu thuyết Rừng Na-uy

            Đã trở nên quen thuộc và xứng đáng là hiện tượng văn học dịch có lượng độc giả nhiều bậc nhất trong vài năm gần đây tại Việt Nam, nhưng không vì thế mà Rừng Na-uy giảm sức hấp dẫn, lôi cuốn mỗi lần được hiện diện hay nhắc đến, đặc biệt là trong giới trẻ, khiến chúng ta tin vào một hiệu ứng Rừng Na-uy sẽ còn mạnh mẽ và bền lâu hơn nữa kể từ khi nó được đánh giá là kiệt tác văn học. Không thể dừng lại mỗi khi cuốn sách kể về những trải nghiệm thanh xuân mà Watanabe, Naoko, Midori lần lượt vấp phải băng qua, từ tình yêu, tình dục, sự trống rỗng, nỗi cô đơn hay cả cái chết. Bằng sự tỉnh thức của kí ức và giọng điệu hoài niệm như là cách duy nhất sẵn sàng để tường trình chân dung thế hệ mình, Haruki Murakami, tác giả cuốn sách, đã cho thấy một Nhật Bản lớn lao và đẹp đẽ khác thường lấp lánh đằng sau thế hệ 1960 đó, để giờ đây nó thật đồng điệu ở/với nhiều nơi và nhiều thế hệ, bất chấp ranh giới địa lí và màu da, ngôn ngữ…

 

            Về phim Rừng Na-uy

 

            Lần trở lại Việt Nam năm 2010 của đạo diễn Trần Anh Hùng không mấy yên ả. Bởi báo chí và dư luận đã liên tục nhắc đến ông với một đích ngắm duy nhất rằng, liệu bộ phim Rừng Na-uy của ông được chuyển thể từ tiểu thuyết nổi danh ấy có thật sự thỏa mãn những gì mà người ta từng đọc, từng cảm nhận trên trang sách không ? Và, có xứng đáng với một phong cách phim Trần Anh Hùng từng được đánh giá cao tại những Liên hoan phim hàng đầu như Cannes (với Mùi đu đủ xanh, 1993) hay Venice (với Xích lô, 1995) ? Rất nhiều bình luận trái chiều với thái độ xiển dương lẫn thất vọng, mà đa số, đều chưa thể xem là kết luận cuối cùng về bộ phim này. Vì thế, một lần nữa, không mục đích gì hơn, chọn Rừng Na-uy để tiếp tục hành trình diễn giải, tiếp nhận ấy, trong sự ước lượng rằng nó thật ý nghĩa, dẫu chỉ cần im lặng để xem và nghe…

7.  Về tiểu thuyết Đảo kinh hoàng (Shutter Island)

             Bốn ngày trên đảo Shutter, giữa cơn bão dữ dội, giữa khung cảnh trại giam bệnh nhân tâm thần vốn là những sát thủ máu lạnh, phải đương đầu với hệ thống quyền lực dã tâm của cái gọi là phương pháp chữa trị nhân đạo, quả thực là một trải nghiệm chưa từng có đối với Teddy Daniels. Bởi chính tại đây, để hoàn thành tư cách một đặc vụ điều tra xuất sắc với việc lật tẩy bộ mặt vô nhân của giới lãnh đạo trại giam, Teddy cũng đồng thời điều tra chính kí ức mình, nơi anh luôn bị ám ảnh bởi cái chết của vợ con và rút cuộc, bị kết án như kẻ tội phạm ghê sợ. Bằng sự tỉ mỉ trong chi tiết và luôn gia tăng các yếu tố bất ngờ, tiểu thuyết gia Dennis Lehane đã dựng lên một Đảo kinh hoàng, bổi cảnh thập niên 1950, vừa xa lạ, bí ẩn, vừa đủ gai góc để phóng chiếu vào đời sống tâm lí của xã hội ngày nay.

 

    Về phim Đảo kinh hoàng

            Trong tay Martin Scorsese, đạo diễn kì cựu của thể loại phim hành động, Shutter Island trở nên cuốn hút không chỉ bởi một kết cấu chặt chẽ, bởi màu sắc kinh dị pha chế khéo léo, mà quan trọng hơn, bởi khía cạnh tâm lí được che giấu và khai thác một cách nhịp nhàng, làm mới các khủng hoảng nội tâm theo chiều hướng xoáy sâu những khó khăn của con người khi buộc phải nhận biết rõ ràng lằn ranh giả dối và sự thật, tự thức tỉnh và thú nhận. Diễn xuất điềm tĩnh, thấu đáo của Leonardo Dicaprio (trong vai Teddy) càng cho thấy duyên nghiệp mặn mà giữa anh và Scorsese. Vì thế, sẽ không ngần ngại nối Shutter Island vào chuỗi thành công trước đây (Gangs of New York, The Aviator The Departed) của bộ đôi nổi tiếng này.

8. Về tiểu thuyết Bay trên tổ chim cúc cu

            Năm 1962, ở tuổi 27, Ken Kesey đã trình làng văn đàn Mỹ tiểu thuyết đầu tay, Bay trên tổ chim cúc cu (One Flew Over the Cuckoo’s Nest) và ngay lập tức, nó được coi là tuyệt phẩm. Lấy bối cảnh là một nhà thương điên, nơi những bệnh nhân tâm thần hoặc bị thành tâm thần phải sống dưới những luật lệ hà khắc vô nhân của nhóm người tự cho mình quyền bóp chết cá tính và lòng trắc ẩn, bằng lối văn tả thực nghiêm khắc, giễu nhại, tỉnh táo nhưng cũng đầy đau đớn, Ken Kesey đã tạo nên nỗi ám ảnh, hoài nghi, suy tư không nguôi về những giá trị tưởng chừng đã thấu hiểu: điên và bình thường; cá nhân và cộng đồng; tính thiện và dã tâm… Từ tầm cao 2m của chàng Bromden – người kể chuyện, thủ lĩnh da đỏ câm lặng, Bay trên tổ chim cúc cu khiến chúng ta trở nên nhỏ bé, cô đơn, hoang mang nhưng, thật kì lạ, nó cũng giúp ta biết và tin rằng, mơ mộng và khoái cảm của yêu thương, của tự do sẽ nâng mỗi người bay lên…

Về phim Bay trên tổ chim cúc cu

            Từ kiệt tác đến kiệt tác, nghĩa là từ Ken Kesey đến Milos Forman. Bởi chính tác phẩm điện ảnh cùng tên, ra đời năm 1975, đã biến những McMurphy, Y tá trưởng Ratched, Bromden, Billy Bibbit… thành một phần không thể thiếu để diễn tả bối cảnh văn hóa xã hội nước Mỹ nửa sau thế kỉ XX, từ đó, để là cứ liệu về chúng sinh dưới gầm trời này. Milos Forman, mà sự kiên trì và khả năng chế tác của ông khiến chúng ta cảm phục, đã cùng với Louise Fletcher và Jack Nicholson, mà sự nhập vai hoàn hảo của họ làm ta phải đánh đổi hết cảm xúc, nhanh chóng tiến tới vinh quang với Grand Slam Oscar – danh từ chỉ mới được dành cho 3 phim trong hơn 80 năm giải Oscar. Dĩ nhiên, Bay trên tổ chim cúc cu là cái tên được nhắc đến nhiều hơn cả và chỉ tính riêng ở Việt Nam, nó đã và đang là niềm say mê của nhiều thế hệ.

One response to “Từ tiểu thuyết đến điện ảnh [P.2]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s