Lang thang miền dã sử


1.Có lẽ một trong những mối bận tâm lớn nhất của đời thi nhân Nguyễn Bính là giải đáp được câu hỏi: đi đâu ? về đâu ? Hơn mười tuổi Nguyễn Bính rời làng quê mình, một nơi mà vẫn váng vất đâu đây tiếng thở dài Tú Xương Vị Xuyên, bậc tiền nhân của ông, người đã tặc lưỡi chối từ cuộc đời lang bạt một cách ngậm ngùi: “Ta nhớ người xa cách núi sông/ Người xa xa lắm nhớ ta không”. Rồi sau đó, chừng như tất cả thời gian hiện hữu trên cõi đời, Nguyễn Bính đã tận tâm dành cho bước chân giang hồ, ông đọ tuổi trẻ của mình bằng “Mười hai bến nước”, ông dan díu kinh thành “Một nghìn cửa sổ”, chấp nhận tình thế “Lỡ bước sang ngang”, áng Mây Tần không giấu nỗi niềm “Hương cố nhân”…

Nếu bậc tiền nhân họ Trần đã buông thõng hai tay vào thơ, vỏn vẹn ruổi rong thành Nam thì ông – kẻ hậu sinh đã như cánh chim di thê cũng không thoát khỏi bản mệnh thi ca. Ấy mà, cái câu hỏi trên kia cứ trở đi trở lại như muốn phủ định cuộc trở về của đứa con tha hương từ thuở bé:

Ta đi nhưng biết về đâu chứ

Đã dấy phong yên khắp bốn trời

Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ

Uống say mà gọi thế nhân ơi

           (Bài hành phương Nam) [*]

Anh đi đấy, anh về đâu?

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…

                  (Không đề)

Anh đi đấy, anh về đâu ?, câu hỏi vang lên từ thẳm sâu nhận thức, phản tỉnh mà ngậm ngùi. Ý niệm chấp nhận hành trạng bản thân như kẻ lạc loài, như hình ảnh trọn vẹn của kẻ bị truy đuổi tận cùng trước những biến thiên của thời cuộc là một ý niệm đầy bản lĩnh nhưng đau đớn, cay đắng. Ta biết rằng, ngay cả Ulysee, người đã trở về sau cuộc trường chinh mặt biển để sáng tạo ra bài ca hay nhất là bài ca đời mình mà ở đó hình ảnh chàng tựa tráng sĩ giang hồ, nhà thơ có sức mạnh thánh thần thì, chính chàng, thường buông lời ta thán về sự đổ vỡ, phân li, mệt mỏi. Sau Ulysee, những cuộc lưu đày lang bạt đói – rét – cô đơn – cái chết dành cho kẻ – sáng – tạo vẫn không ngừng nghỉ, thậm chí như được tiếp nối có chủ định của cuộc đời, đã gắn với Leopardi, Dostoievski, với Van Gogh, Nietzsche, Chaplin… Dĩ nhiên, ta cũng không quên Đỗ Thiếu Lăng “Cô chu nhất hệ cố viên tâm”, người mà Nguyễn Du đã tỏ lòng tri âm dù chính thi nhân nước Việt cũng “Bên trời góc biển bơ vơ” mà thôi.

Anh đi đấy, anh về đâu, cảm thức này khác hẳn với ý muốn xê dịch của Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân chọn xê dịch từ thúc giục của lí trí, sẵn sàng tuyên bố làm gã giang hồ một cách mạnh mẽ. Nguyễn Bính giang hồ vì định mệnh, nó chìm vào im lặng của hình hài, của đứa bé, của tuổi trẻ, nó gần với cảm giác “bầu trời mênh mông và tàn nhẫn trĩu nặng hạ xuống trên đầu ta và tất cả chúng ta cứ bị đuổi đi mãi mãi và ta không có quê hương”(Thomas Wolfe). Nó cũng rất gần với sự ngỡ ngàng đau buốt “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu/ Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu” (Hàn Mặc Tử). Bởi thế, chưa bao giờ Nguyễn Bính trả lời được nỗi lòng của mình, cách mà thi sĩ giải thoát là ngẫu nhiên, sự lựa chọn ngẫu nhiên: thà cứ ở đây/ em không khóc nữa, không than nữa (Xuân tha hương)/ Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây/ Nằm đây chăn chiếu của người ta/ Ở đã không đành đi cũng dở (Đêm mưa đất khách)… Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm – nhịp thơ như nhịp đời ông, viễn vông mơ hồ vô định. Lẽ nào ta phải nhớ lời Napoleon “Kẻ đi xa nhất là kẻ không biết mình đi đâu”.

 2. Nhưng có một sự thật rất rõ là, trong cảm thức không gian của Nguyễn Bính, thi sĩ luôn hướng về kiểu miền không gian có tính chất dã sử. Đó là không gian của những của Ngự Viên, bến Tầm Dương, sông Dịch, của những quan Trạng, Kinh Kha, Bá Nha, Tử Kì, của rượu và giai nhân… Nhiều người đã gọi nó là không gian xưa, một luồng xung cảm xúc đối lại với thực tại xã hội đang trong cơn lốc Âu hóa. Thực chất, hành trình tái tạo không gian xưa của Nguyễn Bính còn phải kể đến không gian làng quê – thôn miền như một trung tâm. Chính không gian này mới đủ sức bảo lưu những nỗi niềm sâu lắng và nồng nàn về vẻ đẹp văn hóa thuần nông. Nó lưu ảnh cái tôi trữ tình nhiều thương nhớ, cái tôi tĩnh đông cứng nỗi ưu tư về sự đổi thay: Van em em hãy giữ nguyên quê mùa. Cái tôi chủ thể này, có vẻ như, yếu đuối và nhỏ bé, thu hẹp vào những vườn – thôn – trầu cau – nhà cửa …, và những chân tình để giữ gìn khung cảnh đó thường không được hồi đáp trọn vẹn.

Không gian dã sử cùng nguồn gốc cảm xúc với không gian xưa. Nhưng càng về sau, dưới tác động của cuộc lang bạt định mệnh, nó trở nên tách biệt với kẻ song sinh đồng dạng cùng mình, rồi tự nhiên mang một hình hài và tâm thế mới. Không gian dã sử quả là sản phẩm của cái tôi động, cái tôi di chuyển khỏi vùng cơ địa văn hóa thôn miền. Không gian dã sử được hình thành trên từng miền phiêu bạt của thi sĩ, nó nhiều hào khí, ảo tưởng nhưng cũng đầy ngậm ngùi, cay đắng, cô đơn. Cái tôi trữ tình trong miền không gian này cách biệt hẳn với cái tôi trong không gian làng quê ở điểm: nó là lưu ảnh của mặc cảm tha hương, mặc cảm lạc loài giữa thị thành. Nó đầy tính chất hiểm nguy khi mà những dải đất mới mở ra trước mắt người lưu lạc đều không dung chứa hết lòng mình, để từ nó, mở ra bao nhiêu hố thẳm u buồn, nhớ mong, khát vọng lên đường cũng là tuyệt vọng quay về. Cuối cùng, nó phải chấp nhận tình trạng “vong khứ hề” như một niềm hưng phấn, như một quyết định dứt khoát của bậc giang hồ thi sĩ.

3. Trong miền không gian dã sử ẩn chứa đường ranh giới, nó ngăn thành đôi bởi lớp cảm xúc của cái tôi, giữa một bên là cái tôi tĩnh tại ước vọng và một bên là cái tôi lang bạt, dấn thân. Khi cái tôi tĩnh tại dựng lên không gian dã sử thì chính nó đứng ở điểm hiện tại đưa ánh nhìn về quá khứ, bên ngoài địa hạt của các sự kiện dã sử đó khiến các yếu tố quá khứ chưa biến hình thành thực tại. Còn khi cái tôi dấn thân vận đến yếu tố dã sử thì nó là quá khứ – thực tại hài hòa.

3.1. Từ giấc mơ quan Trạng

Một trong những sự kiện tinh thần lớn lao mà Nguyễn Bính được thấu nhận vào buổi đầu của thế kỉ XX chính là sự suy tàn của Nho học, các khoa thi dần chấm dứt, những ông Nghè quan Trạng, những lều chõng trường thi dần biến thành di tích. Sự kiện đó làm chới với lớp người trẻ tuổi như Nguyễn Bính – lớp người mà vừa mới ngày hôm qua thôi, vẫn còn xúm xít quanh bút nghiên ông Đồ, nay đã phải học tiếng Tây, cầm bút sắt. Nguyễn Bính chới với nhưng là ngoại lệ vì ông sớm rời xa khuôn mẫu trường qui văn hóa phương Tây. Trong ông, căn cốt của “con người nhà quê” còn mạnh, nó giữ tâm hồn ông ở lại với cái xưa, với xóm làng. Lần đầu tiên, ngoài mảnh vườn, thôn ngõ, Nguyễn Bính chạm đến những giấc mơ không gian khác, thuần khiết và rực rỡ: không gian trường thi với hình ảnh quyến rũ: quan Trạng. Quan Trạng như niềm yêu thương chân thành trong cuộc sống của chàng niên thiếu Nguyễn Bính, dù ở hiện tại, nó là sự thiếu vắng đầy xao động:

Quan Trạng đi bốn lọng vàng

Cờ thêu tám lá qua làng Trang Nghiêm

Mọi người hớn hở ra xem

Chỉ duy có một cô em chạnh buồn

Thế rồi vua mở khoa thi

Thế rồi quan Trạng vinh qui qua làng

(Quan Trạng)

Khung cảnh quan Trạng vinh qui là khung cảnh đem lại hạnh phúc cho xóm làng, nhờ nó mà mọi cá nhân bỗng trỗi dậy những cảm xúc riêng tư trong mình: “hớn hở” hoặc “chạnh buồn”. Cảm xúc riêng tư này, một cách nhẹ nhàng và trong trẻo, có mặt để nuôi dưỡng tâm hồn nhiều mộng tưởng. Những lát cắt đầu tiên trong miền không gian dã sử cho thấy tính chất mộng tưởng khá đậm đặc, Nguyễn Bính gọi đó là “giấc mơ” – giấc mơ quan trạng.

Tưng bừng vua mở khoa thi

Anh đỗ quan Trạng vinh qui về làng

Võng anh đi trước võng nàng

Cả hai chiếc võng cùng sang một đò

(Giấc mơ anh lái đò)

Những con người bình dân đã hướng về kiểu con người khoa cử trong xã hội xưa với niềm ngưỡng vọng đặc biệt và coi đó là một tiêu chuẩn, giá trị của hạnh phúc. Anh lái đò, lúc cao hứng, đã mơ đến cảnh “anh đỗ quan Trạng” võng giá vinh qui – những điều tốt đẹp và đáng yêu nhất được anh vẽ ra trước mắt: tình duyên đi với đỗ đạt. Trong giấc mơ đó, cái không khí “tưng bừng” “hớn hở”, những nét vẽ thoáng qua: lọng vàng, cờ thêu tám lá, cả hai chiếc võng cùng sang một đò… làm người chứng kiến như được sống với khung cảnh thực. Chất mộng tưởng lấn át yếu tố sử, nói đúng hơn, quan Trạng và thi cử là chứng cớ của những niềm tin, huyền thoại ngầm chảy trong dân gian về điều kì diệu, về vẻ đẹp và hạnh phúc ngưỡng vọng.

            Sau giấc mơ quan Trạng, những nét vẽ nguyên sơ của miền dã sử được khai triển qua kiểu sinh hoạt làng quê. Nhiều người đã để ý đến, trong thơ Nguyễn Bính, kiểu sinh hoạt làng quê thường gắn với những tích diễn chèo, hội làng. Điều đó, một mặt, như cách miêu tả đặc trưng sinh hoạt nông thôn, mặt khác quan trọng hơn, là niềm xúc cảm riêng của Nguyễn Bính. Đằng sau những tích diễn chèo, hội làng là cả một không gian quá vãng được dựng lên từ chính nội dung của tích diễn đó:

Phường chèo đóng Nhị độ mai

Sao em lại đứng với người đi xem

Mấy lần tôi muốn gọi em

Lớp Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên sang Hồ

(Đêm cuối cùng)

Chỉ cần một lớp chèo thôi, người đọc có thể hình dung được trọn vẹn bối cảnh không gian khác, nó đẩy xa hơn và xưa hơn so với vị trí quan sát của chủ thể trữ tình về cái không gian hội chèo trước mặt. Đất Hồ trong tích chèo, sau này, trở thành mảnh đất mà chàng thi sĩ giang hồ còn nhắc đến đôi lần như một điểm đến bất thành, cái điều mà chúng ta tưởng, như Moise đã không đến được Chanaan.

Từ bến đò, thi sĩ nhập vai người khách “Nhưng rồi người khách tình, xuân ấy/ Đi biệt không về với… bến sông”. Cuộc giang hồ bắt đầu, từ đây, cảm xúc tưởng tượng dần nhường chỗ cho hành động dấn thân. Bước chân lưu lạc đã xâm lấn vào miền không gian dã sử, chủ thể trữ tình hạ màn đóng vai tiền nhân để trở thành người đối thoại, nhập thân tiền nhân. “Hồn tôi cát bụi kinh thành/ Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe” – lời tự thú này khai mở những ô cửa thời gian mới mà tại đó, Nguyễn Bính đã ngước lên bầu trời tha hương của mình.

3.2. Đến vó ngựa kinh thành

3.2.1.Nhập vai giang hồ, nghĩa là cuộc tống biệt đã thành thực. “Một giã gia đình, một dửng dưng” (Thâm Tâm), không phải vì “chí lớn” mà vì như là định mệnh, số phận, là sự sai khiến của con tạo. Trong miền không gian lưu lạc, Nguyễn Bính thường vận mình vào ba hình ảnh có tính dã sử: người tráng sĩ (Hàn Tín, Hán đế, Kinh Kha…); giai nhân (Chiêu Quân, kĩ nữ, cung nữ); cung điện (kinh thành, vườn thượng uyển, xe ngựa). Ngoài cố hương, cố nhân thì những hình ảnh này là niềm say đắm của thi sĩ. Bởi đơn giản, đa số chúng đều khơi gợi cảm giác thân phận lữ thứ, chia lìa – kiểu thân phận mà thi sĩ gặp nhiều tương đồng. Khác với giấc mơ anh lái đò thuở nào, giờ đây, chàng tuổi trẻ Nguyễn Bính chọn vua Hán đế, nàng Chiêu Quân, đất Hồ làm mẫu hình để đối thoại, nhập thân:

Ô, nàng chẳng phải là em

Tôi nghe vó ngựa Hòa Phiên, rõ ràng

Đất Hồ xa quá, nàng sang sao đành

Trời ơi Hán đế vô tình

Tôi xin đốt cả kinh thành ấy đi

(Một con sông lạnh)

Cảm khái về Hán đế vô tình để rồi cất tiếng “đốt cả kinh thành ấy đi” quả là cảm khái của bậc lãng tử giang hồ. Nhưng tiền nhân xa vắng, chén rượu sầu vẫn nghiêng giữa trường giang và khi nỗi lòng “dan díu với kinh thành” chưa bớt nguôi ngoai thì những vó ngựa, đất Hồ bỗng trở nên mơ hồ, ngọn lửa nào để đốt cháy ?

Lạy giời, đừng sáng đêm nay

Đò quên cập bến, tôi say suốt đời

Chiêu Quân lên ngựa mất rồi…

Rõ là, thi sĩ chỉ muốn dừng lại ở miền dã sử mà mình vừa lạc vào. “Lạy giời đừng sáng” là thái độ níu kéo của viễn khách trên bến Tầm Dương ngày xưa. Khi bóng nàng Chiêu Quân lên ngựa, khách giang hồ rơi vào trạng thái rỗng không. Câu bát của bài thơ mất hút theo bóng giai nhân, hình dung về người ở lại khuất trong bụi mờ vó ngựa ruổi dài.

Cuộc đối thoại với tiền nhân trong miền không gian dã sử luôn loang loáng hơi rượu. Có thể nói, Nguyễn Bính là thi sĩ đem hơi rượu nhuốm đầy thơ. Đó không phải là cái say để Quên như Vũ Hoàng Chương, mà say để đi, uống để lang bạt. Đối với Nguyễn Bính – người viễn khách giang hồ, rượu say mà tỉnh, tỉnh mà say nhận cuộc sống:

Thiên hạ “Chinh nghi Nam Bắc điểu”

Tình đời “Diệp lạc tống lai phong”

(Xuân tha hương)

Trong thơ của Apollinaire cũng có hình ảnh cái tôi trữ tình uống rượu:

Và mi uống rượu nồng cháy như cuộc đời mi

Cuộc đời mi mà mi uống như rượu mạnh

(Alcools, 1913)

Chính thời điểm uống rượu để nhận ra cuộc đời tha hương, là lúc cái tôi thi sĩ Nguyễn Bính chọn nó là bổn phận, một cách tự nguyện như khi nâng chén rượu nồng cháy:

Hỡi ôi muôn vạn dặm đường

Mây Tần lạc nẻo cố hương mất rồi

Người xưa này cố nhân ơi

Đã qua sông Dịch thì thôi không về

Sống là sống để mà đi

Con tầu bạn hữu, chuyến xe nhân tình

(Nửa đêm nghe tiếng còi tầu)

Quan niệm “sống là sống để mà đi” khác xa với thói quen an cư của người dân quê. Nguyễn Bính chính thức giã từ vị trí người dân quê, bước vào cuộc phân li, đó là tinh thần “đã qua sông Dịch” của tráng sĩ Kinh Kha. Với miền  không gian này, chủ thể trữ tình có thể đối thoại với tiền nhân bằng vị thế con người hiện đại:

Đò tôi bến Sở sông Tần

Gió lên một chuyến bất thần sang Nam

Cờ chưa tàn, pháo chưa hoàn

Còn sông Dịch đó còn sang tốt đầu

(Con nhà nho cũ)

Cái lí “còn sông Dịch đó còn sang tốt đầu” vừa đầy chất kiêu ngạo, tráng khí vừa ngậm ngùi, yếu đuối. Kinh Kha “nhất khứ hề” xưa kia có lẽ chỉ biết “biết phục phản”, thi sĩ giang hồ nay còn tưởng đến cố hương, cố nhân. Bước đường giang hồ vẫn chưa nguôi mây Tần, chưa nguôi thôn Vân – cái án của kẻ đa tình là vạn cổ sầu đất khách chẳng thể đem về cố quận. Đồng nghĩa với nó là chẳng thể cắt đứt được quá khứ để lên đường, dù thực tại cần đến một quyết định mạnh mẽ đến hơn thế:

Quê nhà xa lắc xa lơ đó,

Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc

Li tán vì cơn gió bụi này

Người ơi buồn lắm mà không khóc,

Mà vẫn cười qua chén rượu đầy

(Hành phương Nam)

3.2.2. Đóng vai tráng sĩ Kinh Kha, lang thang trong miền không gian dã sử mà Nguyễn Bính kiến tạo nên, ta còn bắt gặp những tên người, tên đất, những ngựa xe cờ pháo biểu trưng cho cuộc ra đi, biên độ thời gian được rút lại gần hiện tại hơn bởi sự xuất hiện chân thực và sinh động của chúng. Gắn với mỗi cặp hình ảnh, thi sĩ thường hay sử dụng các động từ vượt “giới tuyến”: sang (Lớp Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên sang Hồ; Đò tôi bến Sở, sông Tần/ Gió lên một chuyến bất thần sang Nam; Mình đi trăm núi nghìn sông/ Ngờ đâu mang cả lạnh lùng sang Nam; Còn sông Dịch đó còn sang tốt đầu); lưu lạc (Hai ta lưu lạc phương Nam này; Đời cha lưu lạc quê người mãi; Cũng may cho những người lưu lạc/ Càng khỏi trông trăng đỡ nhớ nhà), nhiều nhất là động từ “đi”. Khi “bất thần” vượt giới tuyến không gian, ta hiểu rằng, cuộc ra đi đó dường như không được chuẩn bị trước. Căn nguyên này không cho thi sĩ làm anh hùng, dù có lúc ông trích thơ Đặng Dung – anh hùng thời loạn. Đến đây, cuộc tình tự với phương Nam chỉ còn gắn với rượu, hoa, cờ xe, giai nhân:

Cuộc cờ lầm lỡ pháo xe

Quyết tâm phá bí ai dè vẫn thua

Đến đây đường khóc cùng đồ

Phải đâu Ba Thục hay bờ Ô Giang?

(Nam Kì cũng gió mưa)

Nhiều lúc, sự “lầm lỡ” dẫn đến nỗi đau, thất bại ê chề:

Hỡi ơi! Nhiếp Chính mà băm mặt

Giữa chợ ai người khóc nhận thây?

Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén

Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay.

Càng đi càng cảm thấy rờn rợn, càng cô đơn: “Đĩa đèn chết đuối thân hồ hải/ Chung Tử đi rồi lẻ Bá Nha/ Khá thương nghìn dặm thân làm khách/ Nằm đọc Liêu trai, bạn với ma”. Cuộc tha hương bất thần nhưng là định mệnh, cuối cùng, đọng thành vết thương như thạch nhũ trong tâm hồn. Chính Apollinaire khi lang thang ở đường phố Paris cũng đã viết rằng: “Bây giờ mi đi bách bộ ở Paris và cô đơn chiếc bóng giữa thiên hạ người đời/ Những đàn cừu ô tô buýt kêu rống chạy gần mi/ Nỗi đau đớn ray rứt của tình yêu bóp cổ họng mi”. Có điều, ở Nguyễn Bính, miền không gian lưu lạc nghe thật xa lắc lơ, như từ thiên cổ mà khác nào hôm qua.

3.2.3.Vượt ra khỏi hình ảnh của tiền nhân dưới bóng dáng người anh hùng vượt sông Dịch, bóng giai nhân lên ngựa, không gian dã sử trong thơ Nguyễn Bính trở nên cổ xưa hơn với cung điện, cuộc sống cấm thành. Bước đường lang bạt dẫn thi sĩ đến đất cố đô, cung điện nhà Nguyễn xưa kia. Vẻ đẹp của cuộc hiện tồn “sớm- nở – tối – tàn” đã khía sâu vào cõi tâm linh khách giang hồ vốn luôn nhạy cảm trước mọi tang thương dâu bể. Chính tại Huế, Nguyễn Bính mới cảm khái trọn vẹn nỗi buồn tha hương, không chỉ bởi ở đây có một đời sống thiên nhiên trầm lặng mà quan trọng hơn, những vết tích huy hoàng do tiền nhân tạo nên đã lay động tận cùng những bước chân lạc điệu của người thi sĩ. Hóa ra, chẳng phải cái trường tồn mà là cái phế tích mới khái quát đầy đủ bản chất đời sống thế nhân. Nếu không có đất Chiêm Thành đổ nát, làng thơ đâu thể trình một “kì dị như Chế Lan Viên”. Với người thi nhân nào phiêu du cõi tâm linh của mình một cách say đắm, quả thật, cuộc hiện tồn là những cái thoáng qua và sáng tạo nghệ thuật có lẽ chỉ thuộc về vết thương vĩnh viễn trong lòng.

Ít có thi nhân nào sớm nhận ra ở Huế nét buồn đặc trưng: “Giời mưa ở Huế sao buồn thế/ Cứ kéo dài ra đến mấy ngày” (Giời mưa ở Huế). Mưa làm tê tái, rờn rợn lòng du khách. Nỗi nhớ kinh thành qui về nỗi nhớ Ngự Viên: “Hôm nay có một người du khách/ Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”. Ngự Viên là vườn thượng uyển khi xưa, là trang hoài cổ giữa gió bụi trần ai của thi nhân ngày nay. Nhập thân vào không gian Ngự Viên chính là cung cách kiểm soát của một Tư Mã thi sĩ, rồi từ đó, bỗng chốc, nhập nhòa hiện tại quá khứ:

Đức vua một sớm đầu xuân ấy

Lòng đẹp theo giời dạo Ngự Viên

Cung tần, mĩ nữ người son phấn

Theo gót nhà vua, nở gót sen.

Hương đưa bát ngát ngoài trăm dặm

Cung nữ đa tình, vua thiếu niên.

Ngự Viên như là cuộc sống riêng tư cấm thành. Bài thơ có nhiều yếu tố tự sự, những chi tiết được phơi mở dưới con mắt của người quan sát đa tình. Bởi thế, xét cho cùng, miền không gian dã sử này cũng là miền “ba bốn tao ân ái” mà bậc tiền nhân và kẻ hậu sinh cảm thấy tương phùng:

Tay ai ấy nhỉ gieo cầu ấy

Nghiêng cả mùa xuân, Trạng ước nhìn

Trạng bắt sai rồi, lầu rũ sáo…

Có người đêm ấy khóc trăng lên

Bóng ai thấp thoáng sau bờ trúc

Chẳng Tống Trân ư, cũng Nguyễn Hiền.

Vườn Ngự Viên kết thúc bằng câu chuyện tình buồn. Vẫn là motif tân khoa – người đẹp – quả tú cầu trong các tích sử xưa nhưng tình duyên không viên thành. Câu thơ “Có người đêm ấy khóc trăng lên” lưỡng cư ở hai không – thời gian: quá khứ và hiện tại. Tâm hồn của du khách cư trú trong miền không – thời gian quá vãng đạt đến độ tự nhiên, chân thành và cũng nhiều đau đớn. Tiếng khóc của du khách hay của tân Trạng Nguyên gửi vào bóng tiền nhân, là cung nữ, là gót sen hay Tống Trân, Nguyễn Hiền…tất cả đều mơ hồ.

Cảm xúc du khách trước sự biến thiên của vườn thượng uyển làm cho sự mơ hồ, tiếng khóc trên kia, một lần nữa, tê tái thân phận lưu lạc. Cuộc hiện tồn sớm – nở – tối – tàn của người và cảnh mang ý niệm tâm linh rất rõ. Thi sĩ, từ thuở mơ giấc mơ quan Trạng, đến khi làm khách đa tình và khách giang hồ, vẫn luôn rờn rợn cảm giác không bền vững. Khách qua sông Dịch trót lời thề Tư Mã, nhưng không bao giờ là bậc anh hùng làm nên nghiệp lớn thỏa chí trai thời loạn. Mãi mãi ở con người này chỉ là một tâm linh nhỏ bé, chọn phiêu dạt để nhìn về thế giới và bản thể chính mình. Trong cách nhìn về thế giới, một điểm quan trọng mà thi sĩ hướng tới chính là sự không bền vững, không vĩnh viễn, rất khó sở hữu. Trong cách nhìn về bản thể, thi sĩ chọn cảm giác mơ hồ, phù sinh, thân phận. Và con người, sẽ là cô đơn và cát bụi, có vẻ như, được Nguyễn Bính gửi nhiều yêu thương: “Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ/” Xét ở điểm này, Nguyễn Bính gần với nhà thơ của Chiêm Thành thuở mười bảy. Cảm nhận về con người, Chế Lan Viên nâng lên thành triết lí của sự cô đơn, bản mệnh cuộc đời – “cõi ta” là hành trình đi về chốn hư không:

Nhưng cũng là nơi ai ôi bé nhỏ

Nơi khó dò, khó biết, khó suy tường

Nơi, cùng nhau, trước khi về đáy mộ

Xác hồn ta đã chia rẽ đôi đường

(Cõi ta)

Nguyễn Bính thì viết:

Hỡi ơi! Trời đất vô cùng rộng

Nào biết tìm đâu một mái nhà?

Có như mắt Tịch xanh mà uổng

Đất khách cùng đường ta khóc ta!

(Đêm mưa đất khách)

Có lẽ, triết lí cuối cùng mà khách giang hồ lưu lạc miền không gian dã sử trong thơ Nguyễn Bính là triết lí về thân phận, về con người bị hất văng ra khỏi cơ địa sống của mình.

4. Trong phong trào Thơ Mới, có khá nhiều thi sĩ chọn lịch sử làm đề tài sáng tác. Chẳng hạn, Phạm Huy Thông với Tiếng địch sông Ô, Huyền Trân công chúa, Giấc mộng Lê Hoàn; Phan Khắc Hoan với kịch thơ Lý Chiêu Hoàng… Yếu tố lịch sử, dã sử ở đây đậm nét hơn. Nhưng cũng vì thế, ý thức về lịch sử gần như được giữ nguyên, lấn át cảm xúc về số phận cái tôi thi sĩ. Ở Nguyễn Bính, miền dã sử mà ông dựng nên mơ hồ nhưng cũng là cái mơ hồ của chính cuộc đời ông. Sự dấn thân giang hồ trong thơ Nguyễn Bính tạo ra góc nhìn lịch sử như là thân phận. Điều này, tương tự như nữ sĩ Ngân Giang khắc họa về Trưng Nữ vương:

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa

Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi

Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá

Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi

Hay Vũ Hoàng Chương cũng viết:

Ta chẳng biết, nhưng mà ai biết được

Chân đứng lại hồn trôi vào thuở trước

Tưởng chừng nghe thánh thót lệ người xưa

Hán Minh Phi muôn dặm đất Thuyền Vu

Tiếc cung điện Trường An còn nức nở

(Bạc tình)

Không có những miền không gian nhiều hi vọng, nhiều nhà thơ Mới đã tìm về miền không gian dã sử như hi vọng duy nhất.

5. Ngẫm lại, cái im lặng của Tú Xương trước lời non nước, tránh cuộc vượt giới tuyến không gian có lẽ xuất phát từ tâm thế của một thi sĩ. Thi sĩ đâu thể làm tráng sĩ anh hùng, ngay cả Lí Bạch, Đỗ Phủ. Mấy chục năm sau, người đồng hương cố quận với cụ Tú, Nguyễn Bính, đã lãnh lấy trách nhiệm vượt sông Dịch, cũng để không phải làm một bậc anh hùng, mà là để, ban tặng cho thi ca nước Việt một hồn thơ hiếm có, nào dễ ai thay!

*****

2007

(*): Thơ Mới 1932 -1945 tác giả, tác phẩm. Nxb Hội nhà văn H.1998. Các trích dẫn thơ của Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Ngân Giang, Chế Lan Viên đều lấy từ tài liệu này.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s