Những Giáng sinh trên đất Bắc


 1. Ý niệm rõ rệt về Giáng sinh, về ngày Chúa ra đời của mình hình như hơi muộn, độ lúc mình đã 13 tuổi. Năm ấy, từ trong Đà Nẵng, chị gửi tặng mình cái băng casette thâu những bài hát mừng Giáng sinh. Mình nghe liên hồi kì trận. Ca từ lạ mà âm nhạc cũng lạ, hay nhất là đoạn có đệm tiếng chuông giáo đường. Thánh thót ngân vang, như tiếng nước rót ngưng vào buổi trưa nắng xé. Mình vặn volume hết cỡ chỉ để muốn hàng xóm biết đến thứ âm thanh mà mình cứ đinh ninh rằng, chỉ duy nhất mình đang sở hữu. Cái hạnh phúc hồn nhiên của thằng bé mình lúc ấy rõ ràng có chút tự cao, hãnh diện của vị môn sinh được lĩnh ý xung trận đầu.

Quê mình nhiều nhà thờ Thiên chúa. Trèo lên cây cau đầu ngõ có thể đếm được dăm bảy cái nóc nhà thờ cao ngất. Không hẳn theo kiểu kiến trúc gotich nhưng phải nói rằng, hồi đó, trong con mắt trẻ con của mình thì nhà thờ là công trình đẹp nhất. Đơn giản chỉ vì nó to, rộng và rất nhiều cánh cửa, lại còn có cái chuông treo cao. Trường học của mình chỉ đang là nhà cấp bốn, cửa sổ cái chắp vá, cái mất, học sinh nhảy qua trèo lại suốt ngày. Nhà thờ khác hẳn. Cửa gỗ lim màu nâu thậm, từng cái cột tròn chạy dọc hai bên hiên, nền móng cao hẳn đầu người. Đi vào nhà thờ phải qua mấy bậc tam cấp lát đá trắng. Chỉ cần nhìn thế, mình đã nghĩ, đó là thế giới khác hẳn.

Quê mình có ba thôn, tõe ra ba góc như hình con sao biển ba cánh, đầu chụm lại chính điểm trung tâm là sân vận động. Một thôn (gọi là thôn Hạ) thì người dân chủ yếu làm nghề đốt than. Cái nghề quanh năm ở rừng, mặt mũi nhem nhuốc nhưng hễ bán xong than thì ai nấy đều thích trưng diện, nhất là đám con gái. Hồi đó, mình nhìn những nguời con gái thôn Hạ hệt như mấy diễn viên phim video, vì họ lúc nào cũng áo trắng quần bò và nhất là son môi đỏ choét. Người thôn mình (thôn Thượng) gọi họ là đám ăn chơi, có vẻ như muốn khinh. Cái ăn thì đói mà cứ học đòi, của nả đổ vào áo quần hết. Nhiều cô thôn Hạ chỉ học hết cấp một, chạy vô Sài Gòn làm ăn, Tết về cứ nhao nhao: đi đâu zề, mời zô chơi… Người thôn mình ghét cay ghét đắng, nghe xong chỉ chực nhổ nước miếng xuống đất. Ngoài đốt than, người thôn Hạ có tài bói toán, tướng số phù thủy. Cho đến tận bây giờ mình cũng không thể lí giải vì sao, cái khoảnh đất bé xíu men theo bờ sông ấy lại có nhiều thầy tướng số mà hầu như ai cũng nức tiếng đến thế! Tướng số là cái nghề ăn nên làm ra! Dịp lễ Tết, ma chay cưới hỏi, vận hạn, đi xa về gần đều cậy nhờ cả vào mấy lời phán của các thầy. Cũng phải, một khi đời sống nhiều lo toan, nhiều cơ cực mà vận may thì cậy vào tạo hóa đỏng đảnh thì mấy ai không muốn tin vào lời chỉ dẫn của thánh thần. Cái đó mình cũng không cho là mê tín dị đoan gì lắm. Chính mình hồi nhỏ luôn được Mạ dẫn đến thầy mỗi khi ốm vặt. Thầy chữa bệnh bằng mấy thứ có sẵn trong vườn: lá trầu hôi, lá hành, lá hẹ, lát gừng, hạt muối…, giã nhuyễn thêm chút rượu trắng, và đương nhiên là phải đốt lá sớ mà thầy viết. Ốm vặt nhanh khỏi. Ông thầy này có nhiều tích rất hay, chẳng hạn như, người ta kể rằng, hồi mới được thụ giáo từ thần, đêm nào ông cũng phải ngồi học, tuyệt đối tu thân tránh xa vợ con. Từ một người “chiến sĩ cách mạng”, không biết tí tẹo nào về chữ Hán, giờ thì thầy viết chữ Hán khá thạo. Sau này, khi được học hành lên chút đỉnh, mình nghĩ cái thôn Hạ này có khi là saman giáo.

Thôn Thượng của mình thì là người ăn lương nhà nước. Bộ đội, giáo viên về hưu cả. Có một đám buôn bán nhưng cũng không nhiễm tính con thương buôn gian bán lận. Nói chung, thôn mình chỉ rách việc là hay đấu tranh, hay phản đối. Các cụ về hưu lí luận và tinh thần vô sản đầy mình, hễ có việc chướng tai gai mắt của cánh chánh quyền là nhao lên có ý kiến. Ý kiến nào cũng đanh thép, văn chính luận chắc nịch khiến giới lãnh đạo địa phương vừa mới bổ túc văn hóa phải xây xẩm mặt mày. Họ hãi các cụ lắm. Nhưng mà đời nào xoay chuyển được. Ở nước mình, hệ thống quan lại địa phương là chủ nghĩa trương tuần và lí trưởng kiểu mới, đời đời bền vững. Có gì để thay thế nổi chứ.

Thôn còn lại, thôn Diên Trường (cái tên Hán này hẳn phải do người thôn mình nghĩ ra) chính là những giáo dân. Một trăm phần trăm giáo dân ở tách biệt và độc lập như cái mô hình Vatican vậy! Mười ba tuổi, mình được các phụ huynh vũ trang lí luận rằng, bọn Diên Trường đã từng theo chân Pháp, chúng là kẻ thù của cha ông ta. Quân Pháp càn quét đi trước, người thôn Diên Trường vác cuốc thuổng đi đào bới hôi của. Vì thế, vào lớp, chẳng có đứa nào chơi với “thành phần bán nước” này. Một nhúm học sinh giáo dân trông nhếch nhác, tội nghiệp và gần như chúng bỏ học rải đều theo các năm. Hiếm đứa nào qua nổi cấp II. Lí tưởng cao cả nhất của mấy đứa này là vào Nam, Nam tiến! Người thôn Diên Trường rất khỏe sinh mắn đẻ. Nhà nào cũng suýt suỵt chục đứa lúc nhúc. Nhiều tình cảnh buồn cười hơn, mẹ đẻ con đẻ, cháu bằng tuổi dì tuổi cậu. Mười lăm mười sáu, con gái giáo dân đã xinh hẳn, phổng phao, biết ăn diện. Và nó sớm báo hiệu rằng, cái chu kì sinh nở bất tận của thôn giáo dân này không bao giờ ngừng lại hay thụt giảm đi. Chừng như cái khổ cực không ngăn được da nõn nà trắng, mắt lúng liếng sâu, tóc đen mượt óng. Hồi học cấp II, cái Nguyệt thôn Diên Trường sau mình một lớp xinh nức tiếng. Nguyệt lại hát hay, đi thi tiếng hát đội viên cấp nào cũng đoạt giải. Người ta bảo, con gái giáo dân có khuôn mặt giống đức Mẹ và giọng hát thánh thần cũng đúng. Mười ba tuổi, mình không có thứ lí luận nào để lọt vào đôi mắt biêng biếc của Nguyệt. Mãi tận sau này, khi trái tim gần như đã mất hết si mê cuồng dại thuở thiếu thời, mình mới gặp lại một khuôn mặt giống Nguyệt, là Hương. Hương cũng là một giáo dân và hẳn sẽ không còn ai cho mình cảm giác ghen tị đức cha như khi nhìn thấy Hương vòng tay trước ngực để nghe lời truyền thánh. Hương đẩy mình khỏi chân mây mặt đất để được tái sinh trong khoảnh khắc ngắn ngủi, là được phiêu lưu cùng biển cả. Tuổi 23 mình đã khóc ướt nhòe cả một mùa hạ tràn ngập sắc đỏ phượng hồng trên đất cố đô. Ngày ấy, cấm thành rộng mênh mông đến mức tiếng gọi của mình bị lạc mất, heo hút chiều khỏa lấp nụ cười và mái tóc Hương đang dần xa trong phố xá chia lìa.

2. Khi bắt đầu học trên đất Bắc, mình có dịp đi chơi phố vào dịp Giáng sinh. Những năm đầu thế kỉ XXI, Hà Nội không nhiều tụ điểm ăn chơi. Ra phố vẫn là cách dễ dàng, quen thuộc nhất của những cặp đôi. Giáng sinh rơi vào mùa lạnh, lạnh hơn bây giờ nhiều, nên được cầm tay ai đó lang thang nhìn ngắm mọi thứ cũng được coi là lãng mạn, là vui.

Nếu chọn ra cái gì tiêu biểu cho sức sống, cho đặc trưng riêng của Hà Nội, cái sẽ còn là đề tài hấp dẫn của bao nhiêu văn chương nghệ thuật, hẳn là quán xá vỉa hè. Những tháp rùa, Văn Miếu lẫn chùa Một Cột gì đó chỉ như thứ mô phỏng, trơ cứng và càng có vẻ như thảm hại trong việc tiêu biểu cho một lãnh vực nào đó, chẳng hạn, kiến trúc. Chính vỉa hè mới là linh hồn của Hà Nội từ bao đời nay. Mà chính khái niệm này cũng đã/đang được công nhận trong ngôn ngữ thường ngày với những giá trị nhất định: thông tin vỉa hè, cơm vỉa hè, ngồi vỉa hè, quán vỉa hè, hàng vỉa hè, nhà vỉa hè, lấn chiếm vỉa hè… Vỉa hè, mặc nhiên, đã là một tạo tác lịch sử. Và vì thế, nó cũng đồng thời là một hiện tồn đô thị.

Trong vô số những cuộc ngồi lang bạt vỉa hè, mình ấn tượng với hai nơi: hàng nước ở cổng chính trường Sư phạm và hàng nước của bà già ở rạp chiếu phim cinemathique. Hai cái hàng nước này cũng chẳng nổi tiếng gì cả, nước trà hay nhân trần thì cũng ngon vừa phải, nói chung là uống được. Nhưng mình cứ thấy ấn tượng dù đã nhiều lần theo bạn đi một vài quán nước mà dân sinh viên Hà thành đều biết. Hàng nước ở cổng chính Sư phạm do hai mẹ con thay nhau bán. Hồi mình học thì bà mẹ bán thường xuyên hơn. Hai mẹ con mập mập, gương mặt bầu khá giống nhau. Hàng nước của họ rất đông sinh viên, thứ nhất vì địa lợi và thứ hai vì ai muốn ngồi đâu thì ngồi. Cầm cái ghế nhựa nhỏ, loại ghế cho học sinh mẫu giáo ngồi, nhận chén nước từ tay bà chủ, thế là ngồi tụm năm tụm ba loanh quanh đó. Uống xong lại cầm ghế và chén về trả. Nói vậy tưởng ai xấu bụng có thể chuồn, quỵt tiền. Nhưng mà quỵt tiền chén nước thì bõ bèn gì! Trước thì 500 rồi 1000 nay thì tăng 2000, âu cũng là tiêu bớt tiền lẻ! Cái thú được ngồi ở đây là không bị ràng buộc về cái gì cả. Đã qua rồi cái thời đi uống nước, đi vệ sinh cũng có dấu hiệu nghi vấn. Thực ra, bà chủ quán nảy ra cung cách này cũng vì một công đôi việc, vừa chiều khách hàng vừa tiện đường tháo chạy mỗi khi có công an trật tự. Hàng nước này là ví dụ điển hình nhất cho tính chất cơ động của mọi quán xá vỉa hè. Trong dáng ngồi lim dim tưởng như ngủ gật, bà chủ hàng nước luôn phát hiện được bóng dáng công an từ xa. Hay vì công an có mùi vị đặc biệt gì chăng ? Để rồi, nhanh như cắt, bà quơ ngay chồng ghế và cái thúng đựng tích nước lẫn những cốc nhựa vọt thẳng. Mình đã chứng kiến mười lần như một cái cảnh tượng này đến mức khi thấy bà trổ tài phi thân độn thổ, mình vẫn ngồi yên nhấp từng ngụm nước vì biết rằng, chỉ dăm phút sau, bà lại hiện nguyên hình tươi cười. Liền đó, nếu ai hỏi sao khổ vậy trời, bà liền cất cao giọng “nói xấu chế độ”, lên bổng xuống trầm không ngớt. Chao chát và từng trải, bà dẫn ông nọ bà kia ra làm ví dụ rất sinh động. Mình nghe mà ù đặc cả tai bảo, cháu chỉ biết vậy thôi. Bà gật gật nói lần sau uống nước tiếp nha. Có lần, thấy mình đi ngang qua, bà bảo ờ cái chú này hôm qua lên tivi đọc thơ. Thơ hay thế, hôm nào, chép tặng bà già này một bài. Mình thấy sao lúc đó bà chủ hàng nước hồn nhiên, thanh lịch như người Hà Nội thế!

Bà hàng nước trước rạp cinemathique đã 85 tuổi. Bà bán nước từ hồi hòa bình lập lại, nghĩa là ngót hơn nửa thế kỉ. Bà bảo bà chẳng biết buôn bán gì, chỉ có bán nước mà nuôi sáu đứa con ăn học. Chẳng biết trên đời có ai gắn với nghề lâu đến thế. Có một Hà Nội đi qua trên hàng nước của bà, giờ thì tóc bạc trắng, răng nhuộm trầu đen nhưng nhức. Nhìn bà mà thấy Hà Nội như tĩnh lặng, như xưa cũ ngàn năm vẫn là Thăng Long nhà Lý nhà Trần. Đất kinh đô không chỉ sinh ra mĩ nữ cung tần. Mà còn sinh cả những cô nàng quê mùa tần tảo chợ búa sinh nhai. Và đó mới là cái phần đời chắt chiu ân nghĩa mà những biến thiên thời đại không làm biến tan đi. Hà Nội giờ đây cũng cơ cực nhọc nhằn lắm chứ. Có thấy hàng rong chạy tất tả trên phố mới biết nhân gian chưa thể ấm yên một ngày. Có nếm chút trà đắng vỉa hè lúc chiều muộn và phố bắt đầu lên đèn mới thấy những đồng tiền 5 trăm hay 1 ngàn đồng vẫn được gói ghém cất kĩ dưới chun quần. Căn cơ để mà sống từng ngày. Để mai mốt về đến cõi vĩnh hằng rồi thì kẻ ở lại bớt đi nỗi lo lắng sinh nhai. Bà hàng nước kể rằng, bà đi chùa khắp trong Nam ngoài Bắc. Mình nghĩ, vẫn còn một lớp người Hà Nội sống trong cõi Phật, tâm Phật, cửa Phật. Một lớp người Hà Nội mặc áo nâu sòng, nhai trầu tụng kinh. Phải vì mặc nhiên họ là di ảnh của một quá khứ buồn thương chưa bao giờ phai trên mảnh đất dâu bể này ? Hồi hòa bình lập lại, khi bà hàng nước này bắt đầu ngồi ở rạp cinemathique đây, thì ai, thì những ai phải rời xa Hà Nội để làm một bước chim di mãi mãi mịt mùng. Mình chẳng hiểu nổi. Những cơ sự của đời người phải chăng chỉ có đất đai mới bóc tách được từng lớp, và cũng từng lớp, chảy tan trong cõi thinh lặng ngàn đời.

Giáng sinh mấy năm nay, chị Trúc Ly bao giờ cũng gửi thiệp chúc mừng mình. Lá thư đi qua nửa vòng trái đất. Nơi mà chị hay kể với mình về những trận bão tuyết, những đêm đến lễ Nhà thờ giá buốt. Chị rồi sẽ ở lại với xứ sở đang là quê hương thứ hai của chị. Mình thì tự nhận là kẻ trú xứ nơi Hà Nội này. Thương yêu như thế mà một đời chắc gì đã gặp được nhau. Thì đành vậy thôi. Như là mây giang hồ, lang thang cùng với gió, lạc loài nơi chốn xa. Như là chim xa đàn, giấu nỗi buồn trong cánh.

Hẹn hò cùng giấc mơ!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s