Chạy bộ và yêu đương


            “Chạy bộ có nhiều tác dụng”;  “Tôi chạy bộ” – đó là những câu văn ngắn, sáng rõ, đúng với phong cách viết của Erich Segal trong Oliver’s Story (1976), tức phần hai của Love Story (1970) – một tiểu thuyết từng làm nức lòng giới trẻ nước Mỹ thập niên ’70, nhất là giới trẻ Harvard. Cuốn Love Story còn nổi đình nổi đám bởi nó song sinh với bộ phim cùng tên (do Arthur Hiller đạo diễn, và bản nhạc where do I begin trong phim đã trở nên bất hủ). Có một chi tiết thú vị gây té ngửa: thực ra, bộ phim quay xong thì tác giả kịch bản, Erich Segal, mới viết tiểu thuyết này. Và để kích thích một chuỗi cơn sốt liên tiếp, những người tạo nên Love Story đã chia nhau đánh trận tiền phong: tiểu thuyết ra đúng ngày lễ Tình nhân (14/2) còn phim, dời lại, vào đúng ngày Giáng sinh (24/12) cùng năm. Thế mới biết, yêu nhau yêu cả đường đi lối về, không chừa một đồng xu dính túi cho những ai thích yêu đương lãng mạn có nước mắt (ở nước Mỹ).

            Love Story là một mẫu mực của loại phim tình có kết thúc không hậu. Mối tình đẹp, táo bạo, trẻ trung, rất “cứng đầu cứng cổ” một cách thông thái theo kiểu Harvard lại sớm chấm dứt khi cả hai đương sự, Oliver và Jenny không thể sống bên nhau mãi mãi. Không phải vì họ túng thiếu đến mức hết tiền thuê nhà trọ nên đường ai nấy đi như sinh viên VN bây giờ (bởi ít nhất, sau một giai đoạn cầm cự mái lều tranh, anh chồng Oliver – vốn dòng dõi quí tộc, đã bắt đầu đi làm cho công ty luật ở New York, nơi anh ta kiếm vài ngàn đô là bình thường); cũng không phải do tình thế phát hiện ông chả bà nem theo tính toán của phim truyền hình Việt hôm nay. Nguyên nhân khiến họ rời xa lại rất Hàn Quốc đương thời: Jenny chết vì ung thư máu. Nói mẫu mực là chỗ này: mọi chiêu thức lấy nụ cười và nước mắt khán giả,  đã có ở Love Story cả rồi; các phim tương tự về sau, đặc biệt là phim Hàn, đều như hàng nhái.

            Đọc Love Story rất khoái vì những câu đối thoại cực thú vị. Đó là kiểu đối thoại của một thế hệ không quá vin vào những gì cũ kĩ già nua mà luôn tự xác quyết phẩm chất của mình thông qua hành động, khát vọng và việc làm cụ thể. Trên phim thì phần thoại bớt đi mức độ hấp dẫn, nhưng vẫn giữ lại câu kinh điển: Love means never having to say you’re sorry (đứng thứ 13 trong 100 câu thoại nổi tiếng do Viện phim Mỹ bình chọn).

            Nhưng đang nói về chạy bộ. Phần tiếp theo của cuộc đời Oliver, một ông chồng góa vợ ở tuổi 24, là công việc và công việc. Để tăng cường sức khỏe, Oliver thường xuyên chạy bộ. Và vì thường xuyên chạy bộ nên Oliver gặp được Marcie, một nữ doanh nhân góa chồng, và cả hai, tình thế sẽ cho phép, đến với nhau như hai thỏi nam châm cực mạnh. Đó là tình yêu của hai con người bận rộn, giàu có, biết cách tiêu xài đúng đẳng cấp. Nhưng quan điểm “tạo ra tiền bạc” lại khác nhau. Một lần nữa Oliver chia tay người tình vì phát hiện ra một sự thật hơi sớm: Một lí do để làm nên số tiền kếch xù của Marcie là nhờ bóc lột sức lao động rẻ mạt của nhân công. Phản ứng của Oliver có vẻ hơi xa lạ với tâm thế tiêu dùng ở người Mỹ nhưng phản ánh phần nào tinh thần dấn thân xã hội của nhà văn: chống lại những giá trị phản nhân văn.

            Thực ra, hình ảnh một Oliver chạy bộ là hình ảnh cụ thể của một người Mỹ sau chiến tranh Việt Nam. Họ không còn phiêu dạt nay đây mai đó như dân Hippie; cũng không hăng hái xuống đường biểu tình phản chiến. Họ quyết chí làm việc. Và làm việc là cách để tạo ra của cải, sự thịnh vượng, cũng là cách để vợi bớt những sầu muộn làm cơ thể suy nhược đi. Chạy bộ 8 cây số mỗi chiều quả là con số đáng nể với một bộ óc trên thông thiên văn dưới tường địa lí như Oliver. Nước Mỹ không chỉ là bộ óc mà còn là những cơ thể khỏe mạnh, tươi tắn.

             Chạy bộ có nhiều tác dụng. Một trong những tác dụng đó là làm người đọc thấy cần phải vận động, biết cách sử dụng đôi chân của mình. Ấy thế mà, dường như, văn học Việt Nam rất ít nói đến chạy bộ. Phải chăng ngày xưa có Nguyễn Công Hoan mỉa mai một tinh thần thể dục khiến ai nấy đều ngán ngẩm. Hay vì thực tế đời sống Việt Nam, nhất là đời sống đô thị, món chạy bộ còn ít ỏi nên giới cầm bút chưa thể có những suy tưởng nào đó về nó ? Phần lớn những gì tạo nên khỏe khoắn trong văn học Việt Nam lại không đến từ thể dục mà chủ yếu đến từ chất thép chiến đấu, từ nông dân lực điền, phụ nữ đảm đang. Văn học Việt Nam thích nói đến chạy nhưng là chạy chức, chạy quyền, chạy án…; hoặc bộ nhưng là [giao thông đường] bộ, [giải pháp đồng] bộ; [tình hình nội]bộ và nhất là [gà đi] bộ! Còn viết về tình yêu, thật hiếm hoi cuốn diễm tình nào kể rằng giai nhân tài tử gặp nhau là do chạy bộ [Cụ Nguyễn Du mới kể anh Kim Trọng bước đi đều bước, thôi!]. Thực tế đó phải chăng xuất phát từ một đặc tính nhân học Việt: người Việt lười vận động, lười thể dục; lười chăm sóc sức khỏe với mục đích là duy trì cường độ làm việc và sáng tạo.

            Mình thì khá chăm chỉ chạy bộ. Không bao giờ đạt nổi 8km như anh chàng Oliver nhưng chiều nào cũng xỏ giày ba chân bốn cẳng mươi mười phút. Đó là niềm vui trong ngày của mình. Hehe

2 responses to “Chạy bộ và yêu đương

  1. Doc van phe binh cua anh toi rat vui vui , tui toi phu nu co gia dinh dang hoang thuoc the he thu hai tren dat My, moi tuan tui toi chay hon 35 miles, thu bay la 13.1 miles, chay bo doi voi tui toi la 1 nom the duc nhieu ve mental hon, hy vong xa hoi Viet Nam nen co cai quann niem tot ve chay bo.

    • Cảm ơn những dòng phản hồi này của chị (nếu tôi không nhầm về câu “tui toi phu nu”). Tôi chưa một lần đến Mỹ nhưng đọc tác phẩm văn học Mỹ thì nhận thấy một sự khỏe khoắn cả trong cơ thể lẫn suy nghĩ. Bởi thế đọc sách đó thì cảm thấy chính mình cũng có thêm năng lượng. Chúc chị và gia đình sức khỏe, niềm vui.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s