Chân dung phê bình: Đặng Tiến


Tiểu sử:

Đặng Tiến sinh ngày 30 tháng 3 năm 1940 tại làng An Trạch, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Tốt nghiệp Đại học Văn khoa Saigon năm 1963. Bắt đầu viết phê bình văn học từ 1960.

Ra ngoại quốc từ 1966, lập nghiệp tại Pháp từ 1968, dạy Pháp văn cho một trường trung học Pháp. Làm giảng viên văn học Việt Nam trong ban Việt học, Đại học Paris VII từ ngày thành lập 1969 đến khi nghỉ hưu 2005

Hiện sống tại Orleans, Pháp

Bút hiệu: Nam Chi

Tác phẩm:

– Vũ trụ thơ (1972)

– Thơ – thi pháp và chân dung (2009)

Một số bài viết khác đáng chú ý (Không in trong 2 cuốn sách trên):

– 1956, Việt Nam, Giai phẩm, Nhân văn

– Lời giới thiệu cuốn Thơ miền Nam trong thời chiến

– Vệt khói nhạt trên lư đồng

– Tính uymua và nghệ thuật trong thơ Cao Tần

– Đọc lại Tổng quan văn học miền Nam của Võ Phiến

– Tổng quan về Hồi kí Tô Hoài

– Huy Cận trong tôi

– Đời và nhạc Trịnh Công Sơn

– Sống trong tiếng Việt

….

 —

Vũ trụ thơ (1972), đúng với tên gọi, hàm chỉ cái tiểu vũ trụ do người nghệ sĩ sáng tạo ra, tự tại, độc lập, sánh ngang với các kì công tạo hóa. Nó câu thúc nhà phê bình vươn tới thâu nhận bằng một ý nghĩ rằng: thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng. Ý nghĩ ấy được ông viết ngay ở dòng đầu tiên, Nguyễn Du, nghệ thuật như là chiến thắng, kế đó, phê phán gay gắt lối phê bình xã hội học dung tục đã biến Nguyễn Du và Truyện Kiều thành giá đỡ của sự áp đặt, suy diễn hệt như thi nhân đã dụng tâm gài sẵn đâu đó vài “nội dung tư tưởng” đóng khuôn theo ý muốn nhà phê bình. Chống lại điều này, Đặng Tiến viết: “Nghệ thuật không phát sinh từ một dụng tâm, mà chỉ là thể hiện tiềm thức sáng tạo của con người, vai trò của ý thức chỉ là sắp xếp”[1]. Từ đó, nhà phê bình quan niệm: “Thi ca sử dụng ngôn từ vào một đối tượng khác, nghĩa là sáng tạo một nghĩa mới cho ngôn ngữ”. Thực ra, quan niệm này thể hiện quá trình tiếp nhận thi pháp R. Jakobson mà chính Đặng Tiến từng diễn giải nhấn mạnh vào hai điểm: Một, thi pháp học không chỉ nghiên cứu về bộ môn thi ca như nhiều người tưởng, mà hướng tới một đối tượng rộng lớn hơn: tính cách thẩm mĩ của ngôn ngữ. Thứ hai, riêng về thơ, chức năng thẩm mĩ chồng lên chức năng thông tin để tăng sức thuyết phục và hấp dẫn cho thông tin nhưng tính thẩm mĩ, tự thân nó, là một chức năng độc lập. Phê bình thi pháp thơ cần dựa vào đặc trưng đó. Ở Đặng Tiến, quan sát quá trình phê bình thi pháp thơ của ông, có thể thấy một quan điểm nhất quán: ông nhấn mạnh tính cách thẩm mĩ của ngôn ngữ qua hai điểm, nhạc điệu hình ảnh. Chẳng hạn, viết về tập Mưa nguồn của Bùi Giáng, niềm tương ngộ trong Đặng Tiến qui về các điểm cơ bản và mạnh nhất mà thơ Bùi Giáng có được, là cái hạnh phúc ngôn từ mà cả người viết lẫn người bình đều hướng tới : nhạc điệu và hình ảnh. Theo Đặng Tiến, tập Mưa nguồn “đã khởi đi từ nhiều hình ảnh thắm tươi, điệu thơ ánh ỏi”, do đó, ở nhiều bài thơ không Bùi Giáng vẫn thấy “nhịp thơ nhanh, âm điệu khỏe, hình ảnh rộn ràng, một điệu thơ hiếm có ở Bùi Giáng” [2]. Cũng là giọng, nhạc điệu, hình ảnh, viết về Thơ Cao Tần, nhân bàn đến tính uy mua ở sáng tác của nhà thơ di tản này, Đặng Tiến nhận xét: “thơ Cao Tần có âm vang lâu và sâu, vừa tếu vừa mếu. Chua mà ngọt, bùi bùi, đăng đắng”. Kế đó, phân tích cụ thể bài Hát ngao trên tuyết, ông cao hứng: “lịch sử, địa dư, phong tục, tự sự, tâm tình chen lấn vào bản hào ca chất ngất chữ nghĩa, dạt dào nhạc điệu, trùng trùng hình ảnh”. Kết luận này phản ánh đúng bút pháp Cao Tần như một thành tựu đầu tiên của dòng văn học Việt ngữ từ sau 1975 ở nước ngoài. Viết về Huy Cận, Đặng Tiến đặc biệt nhấn mạnh “giọng lừng khừng triết lí rạo ra cảm giác ưu tư” trong một thi pháp Huy Cận “có uyển chuyển theo từng giai đoạn, nhưng trước sau vẫn nhất khí” [3]. Nhập tâm vào hình ảnh, nhạc điệu của từng thi phẩm, nhà phê bình bắt gặp được thi tính. Thi tính là đức tính của thơ vậy. Không chỉ tìm kiếm nhạc điệu, hình ảnh trong thơ, theo tác truy tìm tính văn chương của Đặng Tiến còn thể hiện rõ đối với văn xuôi. Đặng Tiến phát hiện chất thơ trên trang văn Nguyễn Tuân là âm thanh và hình ảnh, khi thì “nhịp câu văn, những âm vận luyến láy” khi thì “âm hưởng một câu đồng dao”, “âm điệu những câu tục ngữ, ca dao quen thuộc”, khi nhất quyết: “những trang thi vị nhất của Nguyễn Tuân về sau, có lẽ là những trang tả cảnh, gợi lên vẻ đẹp muôn màu của đất nước, nhất là những phong cảnh sơ ngộ, trên một đất nước cố tri”[4]. Có thể nói, trong suốt hơn ba thập niên cầm bút phê bình, Đặng Tiến duy trì tín ngưỡng ngôn ngữ và không ngừng phát hiện nó trong nhiều tác giả, tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, khiến có khi ông được coi là nhà phê bình duy mĩ mà lối thẩm bình của ông như thể một vũ trụ riêng, sóng sánh giữa lí thuyết và trực cảm, giữa ấn tượng và khoa học.

            Đọc phê bình thi pháp thơ của Đặng Tiến, nhận thấy ông có cốt cách của một ông đồ Tây học bình văn. Ông ưa lối viết trò chuyện, dẫn dắt, tâm tình, tự do liên tưởng. Ông tự nhận: “coi như vì tham chữ mà rách chuyện” nên hay thả lỏng ý nghĩ của mình, không hẳn hướng về một đối tượng nghiên cứu duy nhất, để tạt ngang và rẽ, biểu thị một cách nghĩ về cuộc đời, thế sự. Viết về Huy Cận, sau khi dẫn ra suy nghĩ của thi sĩ cho rằng trong mỗi con người còn có, nên có, phải có cảm xúc vũ trụ, Đặng Tiến khẳng định: “Đây là chân lí đơn giản và hiển nhiên, nhưng không phải ai cũng nghĩ ra; và khi đã nghĩ ra không phải ai cũng có quyền phát biểu”, rồi ông nhấn thêm, tựa triết lí: “Người có quyền, có khi lại không nghĩ ra điều gì, và khi chợt nghĩ ra thì không dám sử dụng cái quyền phát biểu của mình”. Cũng với lối rẽ triết lí như vậy, về thơ Bùi Giáng, ông viết: “Hiểu thơ Bùi Giáng không phải lúc nào cũng đơn giản. Mà không hiểu, chưa chắc đã đơn giản”. Triết lí tăng sức hấp dẫn cho bài phê bình bởi nó ẩn giấu kinh nghiệm cuộc sống. Đặc biệt, Đặng Tiến là người sành và sính chơi chữ. Ông chơi chữ để thỏa mãn xúc cảm và đắc dụng ý. Chẳng hạn, ông khẳng định tập Mưa nguồn là “thi phẩm đầu tay và đều tay nhất của Bùi Giáng”; ở mức độ tài hoa hơn, viết về Nguyễn Tuân, ông tạo nhạc điệu cho câu văn phê bình như chính giọng điệu nhà văn: “Âm thanh xa xa lắng, tia nắng mờ mờ phai, buổi chiều xuân vời vợi chơi vơi trong lòng chén, ôi những buổi chiều, chiều của ca dao, chiều trong Thanh Quan đã xế trong lòng ai tự thuở nào… ; về Tô Hoài của Chiều chiều: “Những gian nan biến mỗi quá quan thành cố quận. Những ân hận biến mỗi kì ngộ thành một cố nhân”. Cuối cùng, với lối viết nhấn nhá, mỗi câu kết trong văn bản được Đặng Tiến chăm chút để buông đúng lúc, xoáy, mà vẫn thanh thoát, trầm âm lắng.


[1] Đặng Tiến (1972), Vũ trụ thơ. Giao điểm xuất bản, tr.16

[2] Đặng Tiến (2009), Thơ – thi pháp và chân dung. Nxb Phụ nữ, tr.420

[3] Đặng Tiến, ‘Huy Cận trong tôi’

 http://www.thotanhinhthuc.org/old/THTHTML- pheBinhHuyCanTrongToi.php

  [4] Đặng Tiến, “Vệt khói nhạt trên lư đồng”, <http://hopluu.net/HL75/dangtien.htm&gt;

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s