A Separation (2011): trạng huống phổ quát


             A Separation (Ly hôn, 2011), bộ phim mới nhất của Asghar Farhadi, từng giành giải Gấu vàng tại LHP Berlin năm 2011, đã vừa giành giải Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại Oscar lần 84 diễn ra ngày 27/2/2012. Đây là lần đầu tiên điện ảnh Iran có phim chiến thắng ở hạng mục này, dù trước đó, bộ phim Children of Heaven của Majid Majidi cũng từng được đề cử hạng mục tương tự tại Oscar năm 1997. Với việc A separation giành thắng lợi, điện ảnh Iran lại tái lập vị trí thường xuyên gây ngạc nhiên của mình, nhất là khả năng biến mọi câu chuyện đơn giản thành những vấn đề phổ quát có tính nhân loại, chân thực và cặn kẽ, khiến khán giả không ngừng khơi mở suy tư, đồng cảm với nó.

Biểu tượng của xã hội đa thế hệ

            Cặp vợ chồng Nader và Simin chung sống 14 năm, có với nhau cô con gái xinh xắn 11 tuổi, Termeh. Nader là một thị dân trung lưu, làm việc ở ngân hàng, đủ điều kiện kinh tế, tuy bận rộn nhưng vẫn dành thời gian dạy con học và đặc biệt, hết lòng chăm sóc cha già vốn mắc bệnh Alzheimer, run rẩy và lẩn thẩn. Một phụ nữ hiện đại, xuất thân từ gia đình khá giả như Simin, sau chừng ấy năm gắng gượng, sẽ khó lòng duy trì mãi vị thế hầu hạ chồng con, cung phụng bố chồng ở những việc vệ sinh tắm rửa, nên nhất quyết đòi ra ngoại quốc sống, nơi mà cô cho là điều kiện tốt để con gái trưởng thành. Nader phản đối và vì lòng hiếu kính với cha, anh kí vào đơn li hôn, bắt tay vào lo liệu chuyện gà trống nuôi con. Anh thuê Razieh giúp việc nhà và dù bụng mang dạ chửa nhưng để kiếm tiền nuôi con, trả nợ giúp chồng, Razieh vẫn làm những việc mà một người ngoan đạo như cô rất dễ tự cảm thấy tội lỗi: kì cọ thân thể một người đàn ông già nua không phải là chồng mình. Trong khi anh chồng, Houjat, lại thô lỗ, cộc tính và vô công rồi nghề, nợ nần chồng chất. Mọi việc trở nên phức tạp, rắc rối khi Razieh, trong một lần đến thăm khám bác sĩ, đã bỏ mặc ông già té ngã ngất xỉu và suýt chết nếu Nader không về kịp. Tức giận vì cô giúp việc tắc trách, vì nghĩ cô trộm tiền của mình, Nader đã đuổi việc Razieh và lúc cãi cọ, anh xô mạnh khiến Razieh ngã dúi. Razieh sẩy thai, anh chồng Houjat kiện lên tòa, đòi Nader bồi đền một số tiền rất lớn nếu không bị tống giam 1 – 3 năm. Nader kháng án, kể cả nói dối, chỉ để tại ngoại, chăm cha chăm con. Simin không thể đứng ngoài cuộc, cô tất tả thuyết phục Houjat giảm số tiền, rút đơn kiện, cốt sao yên ấm và để con gái mình an toàn hơn. Houjat đồng ý nhưng khi Nader yêu cầu Razieh phải đặt tay lên cuốn kinh Koran thề bồi rằng chính anh đã làm cô sẩy thai thì Razieh sợ hãi không dám. Vì nguyên nhân chính là do cô bị xe tông trước đó. Vậy là, Houjat chẳng có tiền, Nader bảo toàn danh dự, Razieh càng là tín đồ, Simin rảnh việc. Chỉ duy Termeh, cô bé vừa trải qua giai đoạn khủng hoảng, chới với nhất của gia đình mà chỉ có sức mạnh yêu thương gắn kết mới có thể vượt qua, đã không biết phải trả lời dứt khoát rằng sẽ sống với bố, hay với mẹ, trước lá đơn li dị đã đủ hai chữ kí. Chuyện phim kết thúc bằng sự chờ đợi của bố mẹ, trong tiếng khóc níu kéo của đứa con, chứ không phải là lời đồng thuận như chính họ mong muốn.

            Thật ngỡ ngàng, ngay cả khi xem lại nhiều lần, rằng với chuyện phim chỉ có dăm nhân vật, trong một bối cảnh không rộng lớn, lại có khả năng dung nạp nhiều thế hệ đến vậy, từ người già, trung niên đến trẻ thơ mà nhìn chung, đều điển hình không chỉ cho xã hội Iran đương đại mà còn nhiều xã hội, quốc gia khác. Ở mức độ trình diện những phức tạp, mâu thuẫn ngấm ngầm, những đổ vỡ và vết nứt khó lành, A Separation xứng đáng là câu chuyện mới về một vấn đề cũ, gia đình và li hôn, dù bất luận ở đâu, nó cũng đang nóng hổi và thuộc về những giá trị nền tảng nhân văn cơ bản nhất.

            Dù mặc định mỗi thế hệ đều có một dung mạo, nếp sống cách nghĩ khác nhau song không mấy ai quả quyết giữa họ đều tách biệt, đơn lẻ. Vẫn có vô vàn sợi dây liên hệ, những nguyên lí lẽ phải bất biến, buộc từng cá nhân nương theo, tuân thủ để vừa tồn tại, vừa giúp nhau gối tiếp sự sống. Chính vì thế, trong gia đình Nader, người cha già bệnh tật, trí nhớ suy tàn nhưng vẫn luôn miệng nhắc tên con dâu Simin vì cô mới là người con chăm sóc tận tình, chu đáo nhất. Rất muốn rời bỏ nơi ở song Simin không dễ dứt áo ra đi vì con gái Termeh đang ở lại, ngày một lớn khôn để biết cách đòi hỏi bố mẹ xem xét lại mình. Nader vừa là chồng, là cha nhưng cũng là người con nên không thể hoàn hảo, ngay cả khi anh ý thức rất cao về bản thân, anh vẫn cần sự chia sẻ, cần vợ con kề bên trong lúc éo le. Sự kiện Nader đối mặt với án tù, cái bất trắc tự phát hoàn toàn ngẫu nhiên ấy, sẽ là cú sang chấn đầu tiên khiến các thành viên trong gia đình này phải bấu víu lại, phục hồi những khả năng lắng nghe và phục tùng, chịu đựng và thỏa hiệp, nhanh trí và khéo léo,…, như vốn trước đây họ đã từng có để duy trì đời sống của nhau.

            Nhưng lí lẽ đòi ly hôn của Simin lại mang đến một thực tế khác, vượt ra phạm vi gia đình này, để trùng khít với những mâu thuẫn đang ăn sâu vào từng thế hệ. Tầng lớp thị dân như Simin có quan điểm sống hiện đại, tách dần nghĩa vụ đạo đức và dưới những áp lực vô hình, họ sẽ chọn giải thoát hơn là cam chịu. Nader, một mặt, chấp thuận ly hôn không phải vì tình nghĩa tào khang đã cạn mà vì tính cách hiện đại trong anh đã đến hồi tôn trọng bình đẳng, chiểu theo ý muốn của vợ; mặt khác, như một sự tự đối lập, lại cầm cự với nếp nghĩ, lẽ sống cổ truyền, điều khiến anh thà bỏ hạnh phúc riêng tư còn hơn bất hiếu, bất lương. Giữa hai thái cực đó, thì thế hệ già nua xuất hiện có thể gây cảm giác vô tích sự, phiền toái nhưng thực tế lại trở thành điểm qui kết trách nhiệm, bổn phận mà bất cứ ai cũng mang theo. Thế hệ trẻ thơ như Termeh, Somayeh (con gái của Razieh) khó lòng phản đối người lớn nên thường rút lui trong không gian của mình, nơi chúng hồn nhiên yêu thương chơi đùa, vượt qua mặc cảm giàu nghèo, thậm chí, không hề bận tâm đến xung đột, để cười vui rạng rỡ. Chúng truyền đi ước vọng bình yên và xứng đáng được che chở trong khát vọng đó.

            A separation không chỉ là ly hôn, hay đúng hơn, đặt vấn đề ly hôn trong mối liên quan với pháp luật, đạo đức, tín ngưỡng, giáo dục… vốn là những hạt nhân cấu thành bản chất xã hội. Bóng dáng một Iran ích kỉ, ưa bạo lực và dùng nó để đè nén người khác có thể tìm thấy ở Houjat. Nhưng sống chung với điều đó là sùng tín, là những răn dạy đạo đức tôn giáo, đôi khi vô lí, chi phối mạnh mẽ tâm tính con người, khiến họ biết xấu hổ, phục thiện nhưng cũng biết dối trá, che đậy tội lỗi. Tiếng nói pháp luật với mức độ khô cứng cao nhất, trong tình thế ấy, tưởng có có thể ngăn chặn được dối trá, lại trở nên bất lực một cách khôi hài. Bởi vậy, kiến tạo một xã hội trật tự, an sinh thì không chỉ dựa trên thực thi công lí, dựa trên bằng cứ sự thật mà còn phải nỗ lực tìm biết những câu hỏi thuộc về quá khứ, những đúng và sai, hay chuẩn mực và phi chuẩn mực mà mỗi cá nhân đang tham dự vào. Tinh thần đặt câu hỏi nghiêm túc của một nghệ sĩ trẻ như Asghar Farhadi, trong bối cảnh Iran ngặt nghèo, đủ để xếp A separation vào chuỗi những phim có nhiều ưu tư về cuộc hiện tồn thế giới gần đây, từ Head-onThe Edge of heaven của Fatih Akin, đến In a better world của Susanne Bier; The Tree of Life của Terrence Malick hay Melancholia của Lars von Trier.

Phong cách tối giản

            Điện ảnh Iran, bắt đầu từ Abbas Kiarostami, sau đó là Majid Majidi, Tahmineh Milani và đặc biệt là Samira Makhmalbaf, có thể nói, đã hình thành và phát triển một phong cách tối giản (minimalist), luôn đem lại nét độc đáo và thành công mĩ mãn cho họ. Từng học kịch nghệ tại quê nhà, có vốn kiến thức sâu về sân khấu, văn chương, và đến sau một truyền thống điện ảnh như thế, Asghar Farhadi có lợi thế của người tiếp nối. Tự mình viết kịch bản, làm phim, Asghar Farhadi trong A separation, ngay từ đầu, đã chạm đến con đường đi quen thuộc của dòng phim tác giả.

            Mạch tự sự của phim, rõ ràng, tuân theo sự phát triển logic của sự kiện, tính cách nhân vật. Nếu sự kiện ly hôn mở màn ngay từ đầu, tránh giải thích dài dòng nguyên nhân dẫn đến dù máy quay đã giữ nguyên vị trí khách quan để ghi lại 5 phút đối thoại giữa Nader – Simin, thì sự kiện Razieh – Nader xung đột, có thể coi là cao trào, lại được triển khai theo các chiều kích phức tạp tối đa, hút vào đó những va chạm, căng thẳng trái chiều. Gói gọn hai kiện kiện chính trong sự tiết chế các cảnh quay phức tạp, cách thức bộ phim gây hấp dẫn lại nhờ vào diễn biến tự nhiên của tình huống đời thường, tương tự những mảng tài liệu được đính kèm lại, làm nên bức tranh đa sắc màu cảm xúc.

            Trong phong cách tối giản thì khả năng diễn xuất mộc của diễn viên, mức độ theo sát tình huống của máy quay và không lạm dụng những lần cắt dựng sẽ truyền tải tính hiện thực ở mức tinh khiết nhất. A separation có được điều này theo chiều hướng giảm thiểu ngoại cảnh, tăng cường cặp đôi đối thoại, và nhất là, giảm sút sự có mặt của âm nhạc, như muốn trưng những cảm thức lí tính ngột ngạt, tránh xu hướng bi quan hóa bi kịch. Điều thú vị ở bộ phim này là tuy những thước phim được quay bởi Mahmoud Kalari (là quay phim The wind will carry us của A.Kiarostami và Offside của Jafar Panahi) nhưng phẩm tính thi ca lại không hề đậm đặc mà chỉ thoáng qua, trong ánh mắt buồn thương của các nhân vật nữ. Đó cũng là điểm ưu thế của Asghar Farhadi trên hành trình tạo nên kiểu khán giả mới.

Advertisements

2 responses to “A Separation (2011): trạng huống phổ quát

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s