Về một đặc điểm Oscar gần đây


Hạng mục Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tuy phức tạp trong qui định đề cử, lại lép vế so với năm hạng mục lớn ôm chứa năm ước vọng mãnh liệt (Big fives: Phim – Đạo diễn – Nam chính – Nữ chính – Kịch bản) của truyền thống Oscar có thiên hướng vinh danh từng cá nhân, và đôi khi dễ dàng bị biến thành món tráng miệng được chăng hay chớ của những khán giả không muốn đọc phụ đề, song luôn xứng đáng gây chú ý, nhất là khía cạnh địa chính trị của chính bộ phim đại diện cho quốc gia đó.

Nhiều quốc gia được đề cử năm lần bảy lượt nhưng vinh dự gặt hái chỉ là không hoặc một, khiến họ thấm thía hơn sự khác thường của Oscar, nơi từng tiêu chí xét giải đều sao đi tẩm lại đôi lần. Việt Nam từng có Mùi đu đủ xanh (1993), bộ phim đầu tay của Trần Anh Hùng, tranh tài ở vòng cuối và rồi dẫn đến mơ ước đoạt giải đằng đẵng cho đến tận hôm nay. Tất nhiên ngay cả việc Oscar triệt để thi hành tiêu chí “mỗi nước một phim” như thứ vé mời đặc biệt cho cuộc diễn xướng phi Anh ngữ thì cũng chẳng làm giảm một thực tế rằng chỉ những quốc gia có nền nghệ thuật thứ bảy phát triển, như Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Nhật Bản mới đang dẫn đầu số lượng phim được giải, bên cạnh những cơ hội ít ỏi thuộc về tiếng nói nhỏ lẻ nếu biết cách độc đáo, đủ sức khẳng định kiểu phong cách tác giả..Bởi vậy, người ta tìm thấy ở hạng mục này nhiều bộ phim trở thành kinh điển với nghĩa là đại diện tiêu biểu cho phong cách đạo diễn và từ đó, tạo ảnh hưởng không nhỏ đến điện ảnh thế giới mà nếu phải kể tên thì những Nights of Cabiria (F.Fellini -Ý,1957), War and Peace (S.Bondarchuk – Xô viết, 1968), The Discreet Charm of the Bourgeoise (Luis Bunuel – Pháp, 1972), The Tin Drum (Volker Schlondorff – Đức, 1979), Mephisto (István Szabó – Hungary, 1981), Fanny and Alexander (Ingmar Bergman – Thụy Điển, 1983), All about my Mother (Pedro Almodóvar – Tây Ban Nha, 1999), Crouching Tiger Hidden Dragon (Lý An – Đài Loan, 2000)… đều là thứ của ngon thức hiếm vượt khỏi phạm vi một thời. Nhiều đạo diễn từ vị thế “kẻ xa lạ”, chỉ sau một lần xướng danh hay thắng cử, cũng đã được Hollywood mời chào với tương lai hấp dẫn, chứng minh thương hiệu Oscar thật hữu ích vì tiếng và miếng không đâu lại khăng khít đến thế.

            Mười năm gần đây, ở chừng mực nào đó, hạng mục Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất đang âm thầm thay đổi ở ngôi vị cao nhất. Trước hết là việc tượng vàng đã thôi quẩn quanh vi hành ở các nền điện ảnh lớn mà cởi mở lần đầu ngự nơi “vùng sâu vùng xa”như Đài Loan (2000 với Crouching Tiger Hidden Dragon), Bosnia Herzegovina (2001 với No man’s land), Canada (2003 với The Barbarian Invasions), Nam Phi (2005 với Tsotsi), Áo (2007 với The Counterfeiters), Iran (2011 với A Separation). Nét mới mẻ từ xu hướng “đánh bắt xa bờ” ấy, vừa đem lại hứng thú bởi tính đa dạng của thực tế ngoài trời còn có trời, bởi sức vươn lên của những nhà làm phim độc lập hoặc những khu vực điện ảnh không có tài chính hùng hậu, vừa cung cấp các dữ liệu đáng tin cậy hơn trong đáp án rằng nỗ lực sáng tạo nghệ thuật chưa đến hồi cạn kiệt. Hầu như năm gương mặt trên và những gương mặt còn lại (Nowhere In Africa – Đức, 2002; The Sea Inside -Tây Ban Nha, 2004; The Lives of Others – Đức, 2006; Departures – Nhật, 2008; The Secret in Their Eyes – Argentina, 2009; In a Better World – Đan Mạch, 2010) cũng từng kinh qua cuộc kiểm định tại các LHP hàng đầu ở cựu lục địa vốn đầy kiêu hãnh vì nhất mực trái tính trái nết nhau. Rõ ràng ơn mưa móc Oscar sẽ chẳng thấm vào đâu nếu bản thân bộ phim không có chất lượng, giá trị đích thực.

            Mức độ gần gũi cựu lục địa của Oscar trong tình thế phải giữ gìn bản sắc Hollywood cũng cho thấy giải thưởng này đang hướng sự quan tâm đến những vấn đề nhân văn cơ bản trong cuộc hiện tồn của thế giới hôm nay. Ngoại trừ hình ảnh người hùng (trong bất cứ lĩnh vực nào) và một cốt truyện đậm chất giải trí hiểu liền một mạch luôn bất khả thay thế ở hạng mục Phim hay nhất mà những Gladiator (2001), The Departed (2007), No Country for old Men (2008), Slumdog Millionaire (2009), The Hurt Locker (2010), King’s Speech (2011) thật sự đã đáp ứng thì việc No man’s land, The Lives of Others hay In a Better World đi kèm bên cạnh có lẽ là do chủ ý của Oscar muốn đưa ra thông điệp khác. Chẳng hạn, một Oscar không thờ ơ với cuộc nội chiến ở Bosnia, cũng biết lắng nghe “đời sống khác” ở Cộng hòa dân chủ Đức, nên đương nhiên, năm ngoái, nêu cao khát vọng một thế giới tốt đẹp hơn. In a Better World rất xa lạ với rừng siêu nhân từ các hạng mục khác (True Grit, The Social Network, Inception, 127 hours…) để tồn tại như một phát ngôn đầy âu lo về đạo đức, tình trạng sống: liệu mỗi cá nhân lương thiện có thể tự bảo vệ, miễn dịch cho người thân yêu trước tội ác hay không, nếu cộng đồng xung quanh vẫn như đám đông phi luật pháp, ưa bạo lực và thiếu thiện chí giáo dục? Liệu lòng tốt, tinh thần nghĩa hiệp giúp đỡ quốc tế có khiến các đối tượng được hưởng nhận thấy trách nhiệm phải tử tế hơn hay không ? Trong đúng năm mà Na-Uy, nước láng giềng với In a better World, bị rúng động bởi vụ thảm sát đẫm máu, thì bằng cách tạo ra trạng thái nan giải tri nhận tính nhân, bộ phim đã phác thảo những bất an trong lòng Scandinavia để hình thành một ẩn số khác về thiên đường châu Âu và buộc khán giả phải suy ngẫm tìm cách lí giải.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s