Từ tiểu thuyết đến điện ảnh [P.3]


9. Về tiểu thuyết Cái trống thiếc

       Cái trống thiếc viết năm 1959. Đến năm 1999 thì tác giả của nó, Gunter Grass được nhận giải Nobel văn học, đánh dấu sự trở lại của người Đức trên thảm đỏ của Viện hàn lâm Thụy Điển. Cái trống thiếc gây ám ảnh bởi khả năng tạo nên chuỗi biểu tượng về thời Đức quốc xã mà nhờ nó, ta hình dung rõ ràng cuộc trở về quá khứ như một nhu cầu lương tri thường trực của người Đức hiện tại.Vượt qua những mô tả, ghi chép thông thường về thể chế Đức quốc xã, Cái trống thiếc tiến hành dò thấu tâm tưởng của con người Đức lúc đó mà điểm nổi bật là cảm quan thế giới lố bịch, bất an. Từ tầm cao 90cm của cậu bé Oskar, nhân vật chính của tiểu thuyết, thế giới trở nên thật xô lệch, méo mó, dị kì. Chối từ cuộc sống người lớn, chối từ sự lớn lên của cơ thể, Oskar đại diện cho một nước Đức bị mặc cảm siết chặt nhưng đồng thời, cũng là hiện thân của nước Đức bất khả luận giải quá khứ, lịch sử. Bi kịch của Oskar chỉ có thể giải thoát bằng cách hét thật to. Hét – mãnh lực nội tâm, đã trở thành cách thế sống của Oskar và không chỉ riêng của Oskar.

       Về phim Cái trống thiếc

      Năm 1979, Cái trống thiếc được dựng thành phim cùng tên, do Volker Scholondorff Volker làm đạo diễn, với sự tham gia diễn xuất của các nghệ sĩ Đức và Pháp. Những ẩn dụ văn chương đã hiển thị một cách tài tình trong bộ phim, thông qua lớp hình ảnh siêu thực và khả năng tái sử dụng chủ nghĩa biểu hiện – vốn là phong cách đặc trưng của điện ảnh Đức truyền thống. Điều đó khiến người xem có thêm cơ hội, điều kiện để đẩy xa sự liên tưởng, ngẫm ngợi về những gì xẩy ra trong phim. Bộ phim cũng gây nhiều tranh luận khi thủ pháp tả thực luôn có mặt trong các cảnh tình dục mà đa số chúng đều khiêu khích cái nhìn đạo đức thuần túy. Diễn xuất của diễn viên nhí David Bennent (vai Oskar) gây ngỡ ngàng vì mức độ thuần thục và thuyết phục. Cái trống thiếc đã giành giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes (1979) và Giải Oscar phim nói tiếng nước ngoài hay nhất (1980)

10. Về tiểu thuyết Love Story (Chuyện tình)

            Một tình yêu trẻ trung, đam mê và táo bạo; một tinh thần Harvard thông minh, năng động, tự lập; một kết thúc chưa đi trọn hạnh phúc dài lâu nên gây buồn và nuối tiếc… Đó là những gì ta có thể nói về chuyện tình của anh chàng sinh viên nhà giàu Oliver Barrett IV và cô nàng Jennifer Cavalleri – học dương cầm, có gốc gác tận nước Ý xa xôi. Cả hai là chân dung của thế hệ trưởng thành vào thập niên 1970 – một thế hệ dường như không quá vin vào những gì cũ kĩ già nua mà luôn tự xác quyết phẩm chất của mình thông qua hành động, khát vọng và việc làm cụ thể. Không quá dồn đẩy vào diễn biến nội tâm, lối viết của Erich Segal, tác giả tiểu thuyết, chủ yếu gây hấp dẫn ở nhịp điệu dẫn chuyện tự nhiên, mau chóng, những đối thoại dí dỏm, thông thái, kịch tính, bất ngờ; kiệm lời mà vẫn đủ xúc cảm lãng mạn. Phần hai của cuốn tiểu thuyết này mang tên Oliver’s Story cũng tiếp nối cách viết ấy, xứng đáng là bộ sách gần gũi với tâm hồn, tính cách tuổi trẻ.

Về phim Love Story

            Ngày Lễ tình nhân 14/2/1970 tiểu thuyết Love story ra mắt thì chừng mười tháng sau, nó đã được đạo diễn Athur Hiller chuyển thể thành bộ phim cùng tên, trình chiếu vào đúng dịp Giáng sinh năm ấy. Biết khai thác chất văn hóa đại chúng – một sự kết hợp thú vị giữa âm nhạc của Bach, Mozart và những trận đấu hockey sôi động cùng một tình yêu lãng mạn của sinh viên, bộ phim không những làm mới gương mặt xã hội Mỹ thời hậu hippie mà còn chuyển tải sức sống tươi trẻ đến người xem. Đặc biệt với câu thoại bất hủ “Yêu nghĩa là không bao giờ nói hối tiếc” và âm điệu, lời bài hát chính trong phim (Where do I begin) thì Love story càng trở nên là bộ phim vượt thời gian, từng được Viện phim Mỹ xếp vào danh sách 100 phim tình cảm của 100 năm qua.

11. Về tiểu thuyết [ngắn]  Bức thư của người đàn bà không quen (Letter from An Unknown Woman)

             Tên tuổi và tác phẩm văn chương của nhà văn Áo, Stefan Zweig (1881-1942) đã trở nên rất gần gũi với nhiều thế hệ độc giả Việt Nam. Không chỉ nổi bật ở khả năng viết tiểu luận mà mức độ hấp dẫn, lôi cuốn sánh ngang như tiểu thuyết thực sự, Stefan Zweig còn được coi là bậc thầy tâm lí ở thể loại truyện ngắn. Bức thư của người đàn bà không quen (1922) là ví dụ điển hình của Zweig về tài nghệ miêu tả tâm lí, mổ xẻ những diễn biến số phận éo le, cung cấp những tình huống nội tâm đa dạng…để người đọc có cơ hội được trải nghiệm sâu sắc với cuộc đời nhân vật. Mặt khác, ở truyện vừa này, mô hình bức thư – truyện lồng trong truyện, cũng được xử lí một cách khéo léo, dường như càng khơi gợi những bí mật quá khứ, những nỗi niềm sâu kín mà chúng chỉ có thể được trải ra tận cùng khi tự mình cầm bút.

 Về phim Bức thư của người đàn bà không quen

             Năm 1948, Bức thư của người đàn bà không quen được chuyển thể thành bộ phim cùng tên. Bộ phim là công sức của nhiều cá nhân xuất sắc: biên kịch Howard Koch (từng đạt giải Oscar cho kịch bản phim Casablanca), diễn viên Joan Fontaine, đạo diễn Max Ophuls. Bộ phim, dù có thêm bớt một vài chi tiết so với truyện, nhưng vẫn giữ trọn vẹn tính chất bi kịch của mối tình khác biệt. Và ở khả năng này, bộ phim như một mẫu mực của thể loại phim tình cảm, nhất là cách sử dụng góc quay và tập trung khai thác kết cấu vòng tròn. Bộ phim được nằm trong danh sách 100 phim hay nhất mọi thời đại do khán giả bình chọn trên trang mạng fimsite.org.

9. Về tiểu thuyết Mãi đừng xa tôi

            Mạch chuyện chính trong tiểu thuyết Mãi đừng xa tôi (Never let me go, 2005) của nhà văn Kazuo Ishiguro xoay quanh ba nhân vật Kathy, Tommy và Ruth. Họ vốn là ba học sinh trong ngôi trường Hailsam rất đặc biệt: nuôi dưỡng những đứa trẻ vô tính để biến chúng thành người hiến tạng, dần cho đi những bộ phận của cơ thể, cho đến lúc chúng “hoàn tất” bằng cái chết. Cả ba, cũng như hàng trăm đứa trẻ khác, dù bị quản giáo ngặt nghèo, dù bị mặc định bởi sự an phận, thì cảm giác sống – thứ duy nhất không có hàng rào nào ngăn cản nổi, vẫn luôn quẫy đạp trong tâm hồn họ. Vì thế, cả ba, từ lúc ấu thơ đến khi bước vào tuổi đôi mươi là cuộc rượt đuổi những cung bậc sâu lắng nhất của tình bạn, tình yêu mà không nơi đâu, không một ai trong thiết chế Hailsam có thể hiểu đó là dấu chỉ con người nhất…

            Về phim Mãi đừng xa tôi

            Năm 2010, Never let me go được đạo diễn Mark Romanek dựng thành phim. Xúc động, ngạt thở, bộ phim đủ sức ôm chứa những dữ dội từ bên trong, nơi mạch chuyện được sắp xếp chặt chẽ, nơi mỗi khung cảnh luôn bị phủ đầy bởi màu xám lạnh và âm nhạc da diết. Chính nhịp điệu tự sự được dẫn dắt bởi Kathy, một cách chầm chậm, đã kéo dài những diễn biến nội tâm các nhân vật. Kết thúc tuổi xuân thì là cái chết nhưng điều đó không quá bi lụy vì nhạc phim đã làm tăng hi vọng và kí ức Hailsam, dù khốc liệt, vẫn được đặt bên cạnh những góc máy trữ tình nhẹ nhàng, cũng khiến ta tin vào bản năng sống, lòng ham sống bất diệt của mỗi người.

Có thể nói, cả Kazuo Ishiguro và Mark Romanek, trong Never let me go, đã cùng chung những hoài niệm đậm chất phương Đông và cách đặt vấn đề rất hiện đại từ xã hội phương Tây.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s