FATIH AKIN


            Bài viết này tập trung phân tích những đặc điểm ngôn ngữ điện ảnh nổi bật trong các phim truyện của một đạo diễn Đức gốc Thổ là Fatih Akin: (1). Tính hành trình, chất hài hước [đen] và mô thức sân khấu trong mạch tự sự; (2). Sự khác biệt văn hóa như là một chủ đề trung tâm; và (3). Khát vọng hòa giải trở thành tiếng nói đại diện của thế hệ. Từ đó, bài viết còn nhấn mạnh các biểu hiện cơ bản của thântâm trong cảm thức di dân của thời đại toàn cầu hóa văn hóa mà Fatih Akin là một ví dụ điển hình, nhất là ở khả năng vượt qua mọi rào cản địa – tâm lí để hiển thị và xác lập những giá trị sống, tinh thần nhân văn có ý nghĩa nhân loại phổ quát.

 

1. Trong khoảng hơn một thập niên qua, điện ảnh Đức đang có sự khởi sắc đáng kể, không chỉ được ghi nhận qua nhiều giải thưởng danh tiếng ở các Liên hoan phim quốc tế (LHP) mà đáng chú ý hơn, nền điện ảnh đó đang nằm trong tay một thế hệ đạo diễn trẻ, bước vào độ tuổi sáng tạo sung mãn và sức dự phóng chưa dừng lại ở thời điểm hiện tại. “Thế hệ 1970” trong điện ảnh Đức đương đại, theo hình dung của tôi, là thế hệ đón nhận hương vị đầu mùa của nước Đức tái thống nhất, nơi họ có được sự hỗ trợ phát triển điện ảnh từ chính sách văn hóa, kinh tế ở tầng liên bang và tiểu bang, đảm bảo điều kiện tối ưu cho qui trình sản xuất – trình chiếu – phát hành. Nhưng trên hết, họ là chứng nhân của một thời đoạn nhiều biến cố, đa tạp sắc thái trong đời sống tinh thần xã hội và đã đến lúc, như nhu cầu tự thân, họ làm công việc của người kiểm thảo quá vãng chưa mấy xa xôi ấy, đồng thời cởi mở, suy ngẫm về/với hiện tại ít nhiều đang nhạt phai hồi cố. Trong số những cái tên David Assman (sinh năm 1978, giành giải Khán giả tại LHP Berlinale 2008 với phim tài liệu Football Under Cover); Fatih Akin (sinh năm 1973, giải Gấu vàng tại LHP Berlinale 2004 với phim Head-On); Marcus H. Rosenmuller (sinh 1973, đạo diễn phim Grave Decisions); Ann – Kristin Reyels (sinh năm 1976, phim Hounds của anh đạt giải Fipresci tại LHP Berlinale 2007); Dennis Gansel (sinh 1973, đạo diễn phim The Wave); F. Donnersmarck (sinh năm 1973, đạo diễn phim The Lives of Others đạt giải Oscar năm 2007); Yasemin Samdereli (sinh 1973, đạo diễn phim Almanya – Willkomme in Deutschland, giải bạc Phim Đức 2011), [[i]]… thì cái tên gây ấn tượng nhất và rõ ràng, có một chân dung nghệ thuật khó phác thảo nhất, chính là Fatih Akin.

2. Cho đến nay, cụm từ “filmography” – danh sách/thư mục phim, bao gồm cả những phim do Fatih Akin tham gia trong vai trò viết kịch bản hoặc đạo diễn, đã vượt qua 12 tác phẩm, một con số đáng nể với người chỉ mới ở tuổi 39. Lần theo danh sách này, có thể thấy Akin đã thử sức trên nhiều thể loại: phim ngắn, phim tài liệu, kịch bản và cả ba, hoàn toàn tự nhiên và nhuần nhuyễn, đã trở thành kinh nghiệm hữu ích trong năm phim truyện dài (Short Sharp Shock; In July; Head-On; The Edge of Heaven; Soul Kitchen) [[ii]] vốn là thể loại mà anh đã phô diễn những chiêu thức sáng tạo độc đáo của mình. Cũng như nhiều đạo diễn ở cựu lục địa, một khi tác phẩm đã lọt qua những kiểm định khắt khe, nghiêm cẩn ở các LPH hàng đầu, Akin mong muốn và quyết tâm tạo lập cho mình phong cách điện ảnh cá nhân, thứ hộ chiếu duy nhất đáng tin cậy cho phép anh vừa kịp ghi danh trong chuỗi tên chưa thật kéo dài của cái gọi là “auteur theory” (thuyết tác giả) luôn đòi hỏi cao về mặt nhất quán các thủ pháp sáng tạo riêng biệt. Nói vậy, để thấy, sự lựa chọn của Akin ngay từ đầu là một khởi hành không mấy thuận lợi và sẽ rất trái ngược với những người đồng nghiệp của anh (chẳng hạn như Oliver Hirschbiegel, tác giả của The Invasion; Robert Schwentke, đạo diễn phim Fightplan; và Mennan Yapo, đạo diễn phim Premonition) đã chọn Hollywood làm nơi thăng tiến với những hứa hẹn thương mại hấp dẫn. Fatih Akin chỉ chọn nơi anh quen thuộc, một vị trí ngoại biên hơn nhưng không hề lép vế trong các phát ngôn: Istanbul và Hamburg.

Lý lịch của Fatih Akin bắt đầu bằng chữ Istanbul – Turkish và dịch chuyển dần đến Hamburg. Là con của một gia đình Thổ di cư, Akin sinh ra tại Hamburg, nơi về sau, ở tuổi 27, anh học và tốt nghiệp đại học mĩ thuật tạo hình. Là công dân Đức, anh thấy mình như người ngoại quốc (do tư tưởng alienism [ngoại nhân] dành cho kẻ bỏ xứ và bị nhìn từ phía người trong nước) ở chính cố quận. Nhưng mang dòng máu Thổ trên khuôn mặt và vóc dáng, Akin cũng không thể từ chối tố chất hài hước đến từ quê hương những người thích đùa kiểu Aziz Nesin. Akin, vì thế, dường như là đứa con của thời toàn cầu hóa, của một ý tưởng quyết liệt là phải băng qua mọi rào cản để vừa thám định lịch sử quê nhà vừa cập nhật đời sống nơi trú xứ. Rút cuộc, trước khối nguyên liệu quá khứ – hiện tại thuộc về hai cơ địa văn hóa khác nhau đã tụ kết trong mình, Akin tự lấy bản thân làm cảm hứng và bức tranh, như thứ anh hình dung về một bộ phim, sẽ được đầu tư ở kiến thức phông nền, ở sự tiết chế hợp lí di sản tinh thần mang theo hơn là phô trương cách làm. Điều đó, trên hành trình tiếp nhận phim Akin, khán giả vừa gặp nhiều thách thức nếu muốn hiểu thấu, vừa hứng thú trước các gia vị đời sống khác lạ mà không phải đạo diễn châu Âu nào cũng làm được. Khẳng định cái riêng, Akin nhấn mạnh: “Tôi đến đây với tư các tác gia châu Âu…Tôi dàn dựng cái vật liệu tôi đang có, tôi viết cái chất liệu liệu tôi đang dùng, và tôi điều dẫn cái nguyên liệu mà tôi đang dụng. Bạn biết không, kết thúc điều đó là tôi trên con đường phía trước”[[iii]]. Nói đến chất liệu/vật liệu, thì ngay từ đầu, ở vài bộ phim tài liệu, câu chuyện di dân của gia đình Akin được chính anh khai thác như một cách hiểu về hiện thực mà ở đó, hiện thực không phải là cái được sáng tạo ra mà là cái săn tìm thấy, trong nỗ lực trỏ tới tính chân thực của hư cấu. Nói khác đi, phong cách phim tài liệu của Akin là một thể song sinh của hư cấu, giúp anh nhận thấy hư cấu không phải là điều gì xa lạ, không tách biệt với những gì anh đang sở hữu. “Tôi đến từ hư cấu”, ngoài hàm ý đặc tính năng sản hư cấu của người dân Thổ, còn là một thông báo của chính Akin về việc anh đang nắm bắt mức độ dồi dào các trạng huống nhân sinh trước mặt, đủ là vốn liếng thực tế tối ưu cho những cách pha chế khác nhau trong tác phẩm. Nhưng cách pha chế nào, theo lẽ tự nhiên của một thực đơn lành mạnh, thì cũng phải đối diện với các phản ứng từ khán giả. Akin nhận thức rõ vấn đề này và thường phân định trong đầu ba loại khán giả chính: người Đức, người Thổ và người Đức gốc Thổ. Sự phân định này, trong tính hòa trộn lai ghép, đã bước vào tác phẩm của Akin như một biểu trưng liên kết các sắc thái văn hóa. Người Đức thích khí chất khỏe khoắn, trẻ trung và sự điềm tĩnh của trí tuệ trong từng nhân vật; người Thổ (sùng đạo Hồi) có thể la ó, phản đối trước những cảnh khỏa thân, tình dục hay khu phố gái điếm; người Đức gốc Thổ lại đắm chìm trong cảm thức hoài niệm quê hương mà mỗi khung cảnh, mỗi lời ăn tiếng nói đã là máu thịt… Hư cấu của Akin, từ đó, là thấu tụ của những va động xúc cảm, ý nghĩ, là sự đan cài các mảnh hiện thực và tưởng tượng trong tư thế tích cực tái tạo những miền sống chung của tình yêu thương và kết nối các dị biệt.

Do không được tiếp cận mô hình điện ảnh châu Âu từ sớm, cũng chưa biết ngay Tân hiện thực hay phim Noir [[iv]] nên thuở nhỏ, Akin chỉ có thể ham thích điện ảnh Mỹ, nơi mỗi phim được cấu trúc hóa theo những thể loại quen thuộc về tình yêu, bạo lực, hành động… Bởi vậy, về sau, việc được trở về quê nhà Istanbul làm phim là một cơ hội để Akin, dưới phong thái kẻ ngoại nhân, đa dạng hóa cách kể chuyện của mình. Theo đó, khung tự sự thường được phân chia kết cấu theo hình thức sân khấu, mô hình câu đố và hành trình, trong khi các chi tiết của hình ảnh thì được tái lặp một cách chủ ý. Trong In July (2000), tính hành trình hai chiều được gắn với cặp đôi Daniel – thầy giáo trung học cả tin, ngây thơ và July – cô gái rất mực lém lỉnh, một cách hồi hộp và vui tươi, trong cuộc phiêu lưu đuổi bắt câu đố đi tìm “cô gái có đeo biểu tượng mặt trời” theo cung đường mà các địa danh Hamburg, Rumani, Bungari, đến Istanbul đều được lẩy ra vài nét rất đặc trưng mà đôi khi, chúng như là kết quả của khung hình phóng sự. Trên hành trình đó, sắc màu các thành phố, những con đường mênh mông dài rộng và phong cảnh thiên nhiên tạo thành chuỗi hệ thống hình ảnh có chức năng khuếch tán điểm nhìn, nhưng chủ yếu hướng vào ý niệm không gian nhờ góc máy trên cao phóng khoáng thu gọn sức sống mãnh liệt nhất của màu sắc. In July là phác thảo đầu tiên cho phép Akin ứng dụng những trải nghiệm địa lí, cái sẽ kích thích các giác quan người xem, trong những tưởng tượng phong phú, về những miền đất chưa từng đặt chân với lòng thân thiện bằng hữu. Vì thế, phong cảnh địa lý trong phim Akin luôn đóng vai một nhân vật đặc biệt, một dung môi hoàn hảo để tính cách con người được dịp hiện rõ. Về sau, trong hai phim The Edge of HeavenHead-On, địa lí còn là dấu chỉ của khát vọng được gắn bó, vỗ về và an nghỉ của đời người tha hương lang bạt.

Cần dừng lại lâu hơn ở The Edge of Heaven (2007) để phân tích nét đặc sắc trong cách tổ chức tự sự theo hành trình của Akin. Ở phim này, mạch chuyện được phân định thành ba lát cắt khác nhau: (1). Cái chết của Yeter à (2). Cái chết của Lotte à (3). Bên kia chân trời. Theo đó, Yeter là ả điếm gốc Thổ; Lotte là một cô gái Đức còn bên kia chân trời là vùng đất Trabazon nằm ven biển. Cả ba, do cùng liên quan đến Nejat – một trí thức trẻ Đức gốc Thổ, người đứng ở trung tâm để chuyển tiếp các pha tự sự, đã dần dần khơi mở từng mảnh không gian sống ôm chứa các số phận và biến cố khác nhau. Yeter, sau vài lời gạ gẫm mua bán tình dục, đã đến ở với Ali (cha Nejat), chưa kịp hưởng chút yên ấm gia đình thì chết bởi cú đánh ghen tuông của ông già Ali ngay lúc Yeter muốn từ bỏ cái nghề ô nhục. Con gái Yeter là Ayten, từng tham gia các cuộc biểu tình chính trị tại quê nhà, đã bị trục xuất khỏi nước Đức và tống giam tại Istanbul. Trên đất Thổ, Lotte một mình hiệp nghĩa cứu bạn và xứ lạ đương nhiên bất ổn ấy đã ngẫu nhiên giết cô bằng chính khẩu súng mà Ayten từng cất giấu. Bà Susanne (mẹ của Lotte), vừa nghe hung tin, đã lặn lội sang Istanbul tìm lại những di vật của con gái trong cảm giác đau đớn, mất mát tận cùng… Cứ như vậy, hành trình Istanbul và Bremen, Đức và Thổ chuyển vế cho nhau, khi nơi này là xa lạ, khi nơi đó thân quen, khi người dưng tốt bụng, khi máu chảy ruột mềm. Mỗi lát cắt đều được tính toán sắp xếp ăn khớp nhuần nhị, vừa thả lỏng được mạch cảm xúc suy tư, vừa kịp siết chặt các lớp lang hướng vào chủ đề chính, hướng vào tính vòng tròn của câu chuyện cũng là vòng tròn đời người: kết thúc như là khởi đầu. Trong vòng tròn ấy, các chi tiết được tái lặp theo sự dịch chuyển của không gian: Chiếc quan tài Yeter từ Đức về Thổ và ngược lại là quan tài Lotte; Nejat từ giã Hamburg để ở lại Istanbul và anh đổi chỗ cho ông chủ hiệu sách người Đức muốn tạm biệt Thổ sau mười năm gắn bó. Vòng đời trở nên trương nở, những ngõ ngách tâm lí con người cũng theo đó mà được cơi nới kĩ càng, sâu sắc hơn.

Trong cả hai phim trên, để làm nổi bật tính hành trình, Akin thường dùng các phương tiện đi lại, các điểm mở không gian mà nhờ nó, từng cá nhân có thể bắt đầu di chuyển thân của mình, trong khi tâm, trong nhiều tình thế, lại không cùng tọa độ. Sự đối ngược thân – tâm ở đây cho thấy tính phức tạp rất cơ bản của không chỉ hai quốc gia Đức – Thổ mà còn của hầu hết các nước láng giềng, các dân tộc có sự chia sẻ, ráp nối cơ địa văn hóa lịch sử. Trong In July, trên đường đến Istanbul, Daniel đã gặp Isa, chàng trai Thổ, đang phải “chở lậu” xác người bác ruột về quê nhà. Ông bác này, theo lời kể của Isa, đã đến ở với gia đình Isa tại Hamburg được vài tháng, rồi đột ngột mất. Isa không muốn thân xác người quá cố tứ tán nơi đất khách và bằng chính tâm ý của một kẻ trọng cội nguồn, anh đã quyết đưa cái xác ấy về nơi họ sinh ra. Ở đây, cho dù coi nghĩa cử của Isa là thuần túy đạo lý thì cũng phải thấy, giống như The Edge of Heaven, thân xác không phải là cái cớ duy nhất để nỗ lực bảo toàn, mà chính dòng máu tụ kết của xứ sớ chuyển từ đời này sang kiếp khác tác thành khối vô hình nhưng bất biến là tâm, mới khiến hành vi phụng sự nó trở nên quyết liệt, xúc động đến vậy. Nói rộng hơn, một dân tộc không thể trọn vẹn nếu chỉ hình dung ở khía cạnh địa lí, ở các liên kết quần cư rộng lớn. Nó cần bao gồm cả thân tâm mỗi cá thể, đôi khi rất riêng biệt, nhưng đã vĩnh viễn hóa mặt đất và bầu trời quê hương trong kiếp sống của mình. Hẳn phải thấu hiểu những biến cố của nước Đức, nhất là sau sự kiện tái thống nhất (1991) và hình dung về dân tộc này như một thực thể đa bội suy tư, thì Fatih Akin mới có thêm vài đáp án, một cách tươi mới, cho sự kiểm thảo di sản của mình như vậy.

            Không như In July tương đối rõ ràng tính hài hước lãng mạn trong câu chuyện, The Edge of HeavenHead – On (2004) thường pha trộn các phong cách, chính kịch (drama), tội phạm, hài hước (có khi là hài hước đen/ black humour). Không phải sự non tay đã làm Akin lúng túng trước yêu cầu thống nhất thể loại mà chủ yếu anh thích, khoái chí đẩy xa các cảm giác đối ngược trong giới hạn cho phép. Chẳng hạn, ở The Edge of Heaven thì trường đoạn khu phố mại dâm và căn phòng hành nghề của Yeter có sự pha trộn kiểu hội họa đường phố và cách bài trí quí tộc Thổ giả hiệu, ngầm ý một số phận chua chát đã trôi dạt trong chính không gian sắc tộc mình mang theo. Còn ở Head-On, chọn hai màu đỏ, vàng làm nền, Akin chủ yếu biến ảo chúng với ánh sáng của máy quay cầm tay, nên nhiều cảnh phim rơi vào sẫm tối, thể hiện trạng thái uất phẫn bế tắc nhưng lại được dồn đẩy trong những cung bậc kịch tính của đam mê, tình yêu, bạo lực… nên tri nhận chung vẫn là hoạt năng vượt ngưỡng của hai nhân vật chính. Đặc biệt, ở bộ phim này, khác với cách làm thông thường, Akin đầu tư âm nhạc rất kì công, tỉ mỉ đặt chúng theo sự kiện nhưng cũng phóng túng tự do, tạo khoảng trống để âm nhạc đảm nhận vai trò dẫn dắt câu chuyện. Chuyện phim được gối tiếp bằng bài hát do dàn hợp xướng trình diễn bên bờ sông và các đoạn nhạc mạnh mẽ kiểu phương Tây nhập trong lời ca trầm buồn của nhạc cổ điển Thổ.Theo quan điểm của Akin thì bộ phim là hai chiều: cao/lên – thấp/xuống và trái sang phải, nhưng nếu đặt âm nhạc vào hai chiều trung gian ấy, bộ phim sẽ trở nên ba, bốn hay năm chiều. Như thế, chính âm nhạc có thể mở rộng, biến đổi tầm nhìn cho người đạo diễn và thứ nữa, khiến người xem, tự thân, sẽ yêu thương hay đau đớn với từng trạng huống giai điệu. Nhìn tổng thể, đó là cách phân chia câu chuyện thành nhiều lớp lang, một dạng thức mà có lẽ Fatih Akin đã học được từ B. Brecht hoặc bi kịch cổ điển Hy Lạp, khác với chủ thuyết ba hồi kịch tính như sự phổ biến lâu nay, để khán giả không quá chìm đắm vào những gì diễn ra trên màn ảnh. Họ phải tham dự từ vị trí độc lập khách quan của họ, một ví trí dễ dàng nhận ra khi nào thì một cảnh phim mới bắt đầu.


[i] Grave Decisions là một phim lãng mạn, hài hước kể về cậu bé Sebastian tìm vợ cho bố mình. Phim Hounds là một câu chuyện xúc động kể về hai cha con ở vùng ngoại ô miền đông nước Đức. Lars, nhân vật của phim, phải chống chọi với sự lạc lõng, cô đơn trong chính gia đình mình. Bố mẹ Lars li dị và đều có tình nhân mới. Sự thờ ơ của họ khiến Lars cảm thấy bị xua đuổi, xem thường. Lars không tìm thấy sự hòa hợp giữa mình và bố mẹ, rộng hơn là với thế hệ trước. Trong hoàn cảnh phải sống ở một nơi xa lạ, lại không có ngọn lửa sưởi ấm từ gia đình, Lars như một con sói cô độc. Lars tìm được người bạn của mình, Marie, một cô gái câm. Marie thánh thiện Cả hai đưa đến niềm vui và sự bình yên cho nhau, chống lại tình cảm lạnh lẽo từ bố mẹ mình. Đó là một thứ cổ tích có thực; Phim tài liệu Football under Cover là tiếng nói hi vọng về một sự thay đổi và bình quyền được dồn vào từng bước chạy của hai đội bóng đá nữ Iran và Berlin trên sân cỏ. Là những người phụ nữ theo đạo Hồi, họ không được tự do đến sân nhưng bản thân họ thì muốn chống lại qui định bất công đó. Bóng đá đem lại niềm vui và tinh thần đoàn kết cho những người phụ nữ khăn trùm đầu này; Phim The Wave: Làn sóng là tên một nhóm học sinh do thầy giáo Rainer lập ra nhân khóa học về chuyên quyền. Rainer muốn chứng minh rằng nếu con người bị đặt dưới quyền lực tập thể và kỉ luật thì sẽ nhanh chóng bị chế ngự và điều khiển. Mô hình của Làn sóng gần với chế độ phát xít: chọn thủ lĩnh, có cùng kiểu chào, đồng phục, logo và đặc biệt luôn được duy trì bằng sức mạnh kỉ luật, thái độ kì thị và phân biệt đối xử – một câu chuyện không quá xa lạ với nước Đức và thậm chí, với nhiều quốc gia hiện nay; Phim The Lives of Others  đặt trong bối cảnh chính trị (năm 1984 ở Cộng hòa dân chủ Đức) kể về sự theo dõi của cơ quan mật vụ – đứng đầu là đại úy Wiesler, đối với các hoạt động nghệ thuật của nghệ sĩ Dreyman. Từ chỗ là con người phục tùng và sắt đá, Wiesler đã biết rung động trước cái đẹp và âm thầm cứu Dreyman khỏi bắt bớ. Trong mối tương quan giữa Wiesler – Dreyman thì Wiesler được nâng lên như một hiền nhân đồng cảm và trân trọng mọi hành động sáng tạo của người nghệ sĩ; Phim Almanya – Willkommen in Deutschland là câu chuyện hài hước và xúc động về một gia đình Thổ di cư sang Đức rồi lại từ quê hương mới trở về quê cũ. Giữa hai chiều đó, những thành viên trong gia đình Yilmaz đã có cơ hội nhìn lại quá vãng vừa qua, đối mặt với hiện tại và tìm ra một giải pháp tối ưu nhất.

[ii] Short Sharp Shock (1998) đạt giải Leopard tại LHP Locarno (Thụy Sĩ); Phim Head – On (2004) đạt giải Gấu vàng tại LHP Berlin; Giải phim hay nhất và giải khán giả tại LHP châu Âu; Phim The Edge Of Heaven (2007) đạt giải Kịch bản xuất sắc tại LHP Cannes; Phim Soul Kitchen (2009) đạt Giải đặc biệt của Ban giám khảo tại LHP Venice lần 66.

[iii] Wendy Michell, “Going to extremes: Fatih Akin on His Turkish – German love story Head-On” trên website: www.indiewire.com

[iv] Tân hiện thực (Neorealism): một trào lưu điện ảnh Ý, tồn tại trong khoảng 1942 – 1951, thể hiện khát vọng của thế hệ trẻ muốn thoát ra, chống lại các qui phạm của điện ảnh thông thường. Các tên tuổi nổi bật của trào lưu này có thể kể đến: R. Rossellini (Rome Open City), V. De Sicca(Bicycle Thieves), L. Visconti (Le Terra Trema)…;  Phim Noir (film noir): Thể loại phim đen, một thuật ngữ do giới phê bình Pháp đặt cho một thể loại phim Mỹ, chủ yếu là thể loại phim trinh thám, giật gân, li kì với ánh sáng dưới mức ánh sáng chủ và thể hiện tâm trạng u buồn.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s