Quan niệm “Viết” trong phê bình văn học hải ngoại


Viết (writing/ l’écriture) được nhiều nhà phê bình Việt Nam ở nước ngoài bàn đến, không chỉ là sự tự thú kinh nghiệm cá nhân mà còn diễn giải như một hệ số lí thuyết lớn của khoa học văn chương.

            Trước hết, cái viết được nhắc đến trong cảm nghĩ thông thường và truyền thống, được coi như một hành vi thuộc về nhu cầu cá nhân. Nguyễn Hưng Quốc thú nhận rằng, với ông, viết là để “đã ngứa”, cái ngứa trong tâm hồn, vì thế, có khi “viết, như một cách tự họa”. Nguyễn Mộng Giác phát biểu: “Viết là một nhu cầu tự nhiên và bức bách không thể không có, không viết mới là trái tự nhiên chứ không phải viết”[i]. Như vậy, tự nhiên là phẩm chất đầu tiên của viết và nó điều khiển cung cách lựa chọn. Trong lựa chọn, viết, bất luận ở vị thế nào, cũng hướng về một ý nghĩa nhất định dù nó chỉ làm thỏa mãn ở mức độ tạm thời. Thường Quán, trong tiểu luận Viết, đã hứng thú sưu tập những đích đến khác nhau của viết: Viết là tìm một bước cho cuộc nhảy múa tự biên đạo lấy, trong bóng tối…Viết là mò mẫm cào xới trong chiếc giếng cạn, biết đâu một mạch nước… Viết là thách thức và đối kháng… Viết là vì bầu trời quá rộng, quá sức. Viết là nằm trên những biên giới. Viết là tạo một năng lượng vừa đủ, cho một người, hai người…

Vượt lên nhu cầu tự nhiên, cái viết tồn tại như sự thách đố mà tính cách dấn thân là phương án cơ bản nhất để vượt qua. Hầu hết các kinh nghiệm về viết đều cho thấy, cuộc dấn thân của hành giả chân ngôn là hình ảnh tráng lệ về người viết. Trả lời câu hỏi Viết để làm gì, J. Paul Sartre khẳng định: “Viết là một cách thức nhất định của khát vọng tự do”. Tư tưởng này có nét tương đồng với Đặng Phùng Quân khi ông coi viết là “một hành động biến đổi thế giới… Viết trước hết đem lại sự bất ổn cho đời sống”[ii]. Trong quan niệm của Đặng Phùng Quân, viết đồng nghĩa với các cấu trúc tư tưởng được chứa đựng, sau đó, bằng việc ứng dụng nó, viết làm biến đổi đời sống, biểu thị khát vọng tự do. Nếu tự họa nghiêng về viết trong sáng tác thì tự do lại nghiêng về viết trong phê bình. Bởi cơ hội tự do của cái viết không nằm trên điểm đến con người xã hội mà tỏa sáng trong con người tự sinh, một kiểu tự do triết học, nghĩa là cái bản ngã tự đảm trách lấy hành động của mình, vì mình và tự thể hiện. Do đó, nhìn tổng quát, “vận động của văn chương là cách mạng”. Nói vận động của văn chương là nói đến vận động của tư tưởng, là ở sự tiếp diễn không ngừng nghỉ các khúc ca Ulysses trên hành trình chinh phục, khám phá và thực nghiệm cái hữu thể tôi. Viết để xác định tự do giúp bản ngã tránh khỏi nỗi sợ hãi vô hình. Chống lại cái sợ hãi và định mệnh, theo Nguyễn Vy Khanh luận về M. Heidegger thì phải kiên quyết lựa chọn và “viết là để nói rằng, làm chứng rằng, một kiếp người, một hiện hữu đã có, một cuộc sống đã từng có”[iii] . Phạm Thị Hoài hài hước và tự giễu cái ảo tưởng về một sự lựa chọn quyết liệt nhưng không phải không chứa trong đó cái quan n iệm “văn dĩ tải nghệ thuật”: “ta vào nghề viết với lòng khấp khởi, rằng văn chương là một pháo đài có thể chinh phục”[iv]. Từ đó, cái viết xác nhận sự sống có mặt, là cái đang là chứ không phải cái phải là.  cái đang là có sự tham gia đầy nhiệt hứng của từng cá nhân.

            Từ sự đổi mới quan niệm đó, các nhà phê bình đã trình bày cái viết theo nghĩa kĩ thuật viết, cách viết. Và cần phải dẫn nhập ngay là, sự bàn luận về cách viết/ kĩ thuật viết của các nhà phê bình hải ngoại, đã xuyên qua những cột mốc lớn trong thế kỉ XX, từ tượng trưng, siêu thực đến cấu trúc, hậu hiện đại cùng nhiều thể nghiệm táo bạo khác.

Ý thức về cách viết, các nhà phê bình người Việt ở nước ngoài có khuynh hướng tập trung bàn sâu vào cách ứng xử với ngôn ngữ. Nguyễn Hưng Quốc nhận xét: “Nói đến cách viết là nói đến tầm quan trọng đặc biệt của ngôn ngữ” và “viết là đi vào sân chơi ngôn ngữ”[v]. Trần Hữu Thục chỉ rõ hơn: “Viết là tổ chức chữ nghĩa vào trong một cấu trúc”[vi]. Nguyễn Vy Khanh thì bay bổng: “Ngôn từ, tài sản riêng của con người và là phương tiện mà cũng là đích đến”[vii], tương tự cách hình dung ngôn ngữ đưa đến hội hè của trí tuệ mà P. Valéry thích thú. Những phát hiện này không hề lạ lẫm với cách nhìn trước nay về ngôn ngữ nhưng nếu người xưa phó thác tuyệt đối vào chữ nghĩa thì cố gắng của các nhà phê bình này là kéo giãn cái khoảng cách kính cẩn về phía hoài nghi: “Người ta viết, vẫn viết, nhưng lại không ngớt nghi ngờ khả năng thể hiện của ngôn ngữ”[viii]. Sự nghi ngờ ấy xẩy ra ngay khi hành động viết bắt đầu, chữ nghĩa đối mặt với việc sắp xếp hiện thực vào một cấu trúc nhất định, theo cách diễn đạt của Trần Hữu Thục thì đó là sự “lắp ghép các hiện thực nguyên thủy, tái bố trí chúng thành một hiện thực mới, nghĩa là bịa ra một thực thể tâm lí mới”[ix]. Đến đây, mặc dù có đề cập đến sự “chênh vênh” giữa hiện thực và hư cấu nhưng cả bài viết của Nguyễn Hưng Quốc lẫn Trần Hữu Thục dường như chưa bàn kĩ đến nó như là một cuộc chiến chống mimesis (mô phỏng, bắt chước) quyết liệt.

Hoàng Ngọc Tuấn trong tiểu luận Viết: từ hiện đại đến hậu hiện đại đã coi những cuộc phản truyền thống mimesis như trên là “nỗ lực cần thiết để vượt qua cái nhìn đầy tính huyền thoại của thế kỉ XIX về hiện thực thế giới. Đó là thái độ cách  mạng: nghệ thuật hiện đại tin vào sự tiến hóa của nhân loại, nó muốn hủy bỏ những bảng giá trị cũ để lập nên những bảng giá trị mới thích hợp với thời đại mới”. Kĩ thuật viết chấp nhận sự phá dỡ các khuôn mẫu có sẵn và không còn hoài cảm với những tang thương trên hành trình thực nghiệm. Năm 1968, “cái chết của tác giả” được dựng lên, lối viết rơi vào lâm chung, vào giai đoạn độ không. Cơ thể văn bản và liên văn bản trở thành trung tâm của mọi diễn giải và hiện hữu trong vẻ hấp dẫn không ngừng của nó. Cái viết, lúc này đã kêu gọi người đọc, bằng các tri thức riêng tư, cùng chung tay gây dựng văn bản.

Nhìn lại, trong thế kỉ XX, cái viết không còn là sở hữu riêng lẻ nữa mà đã bị sung công vào quá trình tiến hóa của các chủ nghĩa, các trường phái, trào lưu… Mỗi trường phái, trào lưu đều thể nghiệm một cách viết, nghĩa là phải xóa bỏ cách viết đã có, triệt hủy cái cuộc viết đã qua mới mong đi đến cái mới, đi đến sự thắng lợi của mình. Nguyễn Hưng Quốc cho rằng “Quá trình hủy diệt phải lặp lại không ngừng, nếu không, bất cứ người nào, dù đã đi đến tận cùng cái mới, cũng tức khắc trở thành sáo mòn và lạc hậu”[x]. Điều này cũng có nghĩa là, cái viết trước hết là để tự hủy diệt mình và sau đó, để sáng tạo mình.

Viết không chỉ sáng tạo ra cái đẹp bằng chữ nghĩa, tức không chỉ bận tâm với các cuộc thử nghiệm với ngôn từ. Mà quan trọng hơn, viết là sáng tạo nên mình, thử nghiệm mình. Quang cảnh cái viết ở thế kỉ vừa qua đã chứng minh rằng, một nền văn học của sự cạn kiệt (the literature of exhaustion) theo cách nói của Jonh Barth khiến người cầm bút đôi khi rơi vào tình thế oái oăm như Nguyễn Hưng Quốc phân tích: hắn vừa phải giành giật từng con chữ và từng biểu tượng trong tài sản tinh thần tập thể của xã hội để làm của riêng lại vừa ngay ngáy ngờ vực giá trị biểu hiện của những chữ và những biểu tượng đó”.

Muốn thoát khỏi tình thế oái ăm, không còn cách nào khác, nhất là trong bối cảnh hiện nay, người viết phải nỗ lực sáng tạo nên mình, vượt trên mình bằng những khối lượng tri thức tổng hợp. Chính khối lượng tri thức này, một mặt, khắc phục tiếng nói kinh nghiệm cá nhân – điều không còn là giá trị hoàn hảo ở thời đại toàn cầu hóa, mặt khác sẽ cảnh tỉnh người viết “không được sử dụng những gì hắn đã biết”. Từ đó, viết là để mở rộng không ngừng những biên giới đã có từ trước và đã có trong mình. Có thể hình dung quá trình đó như là cuộc chiến đấu âm thầm nhưng quyết liệt: “Cuộc chiến đấu với những gì đã được viết; với những điều trên đó cái viết được hình thành: ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa”[xi]. Cấp độ cao nhất của cuộc chiến ấy lại ở ngay trong chính bản thân người viết, nơi người viết tự thấy mình chính là đối thủ và thử thách lớn nhất. Vượt qua được những gì mình đã viết, qua cái tôi sáng tạo trước của chính mình tức đã đi đúng quĩ đạo sáng tạo tiếp theo. Bước vào một cuộc phiêu lưu mới là nỗ lực vượt lên mình, chấp nhận làm “kẻ phá hoại” trong con mắt đương thời và từ trong vũ trụ cá nhân. Cái viết giương buồm không che hết mặt trời thì ít nhất nó phải đừng để cuộc phiêu lưu bị gián đoạn trong bóng tối của đáy giếng.

 “Mỗi lần viết là một lần tái định nghĩa cái viết” (Nguyễn Hưng Quốc). Trong khi tái định nghĩa cái viết, qui luật tâm lí sáng tạo và yêu cầu tiên quyết của sáng tạo cùng lúc được gặp gỡ: tự định nghĩa chính mình.

Đăng lại bài này như gợi lại kỉ niệm tháng Sáu với bộ môn Văn học VN hiện đại (Khoa Ngữ Văn, ĐHSP HN), với chị Trúc Ly – người bạn xa xứ không văn chương gì nhưng hết mực yêu thương tôi. Bởi thế, tôi không đồng ý với bất kì trích dẫn/trích đăng lại nào lấy từ bài viết này.


[i] Nguyễn Mộng Giác, ‘Viết ngoài quê hương’

<http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=202&gt;

 

[ii] Đặng Phùng Quân, ‘Viết trước hết đem lại sự bất ổn cho đời sống’, Hồ Trường An thực hiện

<http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=3422&rb=0102&gt;

 

[iii] Nguyễn Vy Khanh, ‘Từ viết đến phê bình’

<http://www.nhanvan.com/van.htm&gt;

 

[vi] Trần Hữu Thục, ‘Viết, từ chỗ chênh vênh’,

<http://damau.org/index.php?option=com_content&task=view&id=3484&Itemid=5&gt;

 

[vii] Nguyễn Vy Khanh, ‘Từ viết đến phê bình’

<http://www.nhanvan.com/van.htm&gt;

 

[ix] Trần Hữu Thục, ‘Viết, từ chỗ chênh vênh’,

<http://damau.org/index.php?option=com_content&task=view&id=3484&Itemid=5&gt;

 

[x] Nguyễn Hưng Quốc, ‘Viết văn với… cây búa’,

<http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=242&gt;

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s