Phê bình văn học hải ngoại: nhắc một vài cuốn


 Về cơ bản, đa số cây bút phê bình đều ít nhiều gắn với giảng dạy, trong môi trường đại học hoặc các hoạt động chuyên sâu liên quan đến văn hóa nghệ thuật. Tại môi trường này, nhờ khả năng ngoại ngữ và kiến thức văn hóa, họ dần dần bổ túc kịp thời cho mình bản chất, biểu hiện của những trào lưu, trường phái nghệ thuật và văn chương phương Tây, diễn ra trước đó hoặc đương thời.

            Sự hấp thụ ngữ quyển học thuật phương Tây diễn ra mạnh mẽ hơn trong nghiên cứu phê bình. Thế kỉ XX là thế kỉ cực thịnh của lí thuyết phê bình. Cuộc phiêu lưu lí thuyết, từ phê bình mới, thi pháp, cấu trúc, hậu cấu trúc, phân tâm học, kí hiệu học… theo một tâm sức nhất định, qua việc sưu tập giới thiệu và ứng dụng đã có mặt trên nhiều nẻo đường học thuật.

            Thành tựu bước đầu của xu hướng này là Đặng Phùng Quân với Văn chương và lưu đày (1985), được tạp chí Văn học nghệ thuật số tháng 10/1985 ghi nhận “là tác phẩm biên khảo về văn học đầu tiên của chúng ta sau mười năm lưu vong”. Văn chương và lưu đày có dạng thức của việc lập thuyết mà ở đó, chủ đích của người viết là thực nghiệm, khám phá và tự mình tư tưởng đồng nghĩa tự do tư tưởng.

Trong sự đa dạng của các lí thuyết phê bình trên, có thể thấy, các nhà phê bình hải ngoại ưa chuộng và thành công nhiều hơn với cấu trúc luận, giải cấu trúc và hậu hiện đại. Có thể kể ra các công trình tiêu biểu: Thụy Khuê với Cấu trúc thơ (1995), Sóng từ trường I (1998); Nguyễn Vy Khanh với Bốn mươi năm văn học chiến tranh 1957 – 1997 (1997), Văn học và thời gian (2000); Nguyễn Hưng Quốc với Thơ, v.v… và v.v…(1996), Văn học Việt Nam từ điểm nhìn h(ậu h)iện đại (2000), Văn hóa văn chương Việt Nam (2002). Thụy Khuê, trong vai trò kí giả và nhà biên khảo, đã đến với các lí thuyết Roman Jakobson như một trạng thái bị phát bỏng để rồi, ở công trình đầu tiên, Cấu trúc thơ, luôn đặt độc giả vào tình thế đối đầu với lí thuyết, đôi khi có phần xơ cứng. Công trình này ghi dấu sự xuất hiện của nhà phê bình Thụy Khuê trên văn đàn hải ngoại với nhiều phẩm chất cụ thể mà sau này đã in đậm trong phong cách phê bình của bà: xông xáo, quyết liệt, không ngần ngại làm mới mình bằng cách gia giảm những lí thuyết và phương pháp đã tích lũy được. Nguyễn Hưng Quốc, ngoại trừ cuốn Võ Phiến, trong ba cuốn còn lại, có thể tóm tắt ở mức giản lược một phương trình tư tưởng cốt lõi, mà chính nó gây được tiếng vang kéo theo nhiều đồng tình: “đối thoại, phản biện = giá trị”. Tước bỏ thậm chí đi đến phá hủy các kiến trúc thẩm mĩ đã tồn tại, Nguyễn Hưng Quốc đầy tham vọng muốn đưa ra những điều kiện tối thiểu để phủ sóng một điển phạm mới trong sinh hoạt nghiên cứu phê bình. Còn với Nguyễn Vy Khanh, nhờ ưu thế vốn kiến thức cổ học, triết học khá thâm sâu, trên con đường biên khảo, ông còn được bảo trợ bởi những tư liệu xác tín mà ông được tiếp xúc hằng ngày thông qua công việc của một librarian (chuyên viên thư viện), đã cố gắng nhìn nhận và giải tỏa những khúc mắc và vấn nạn lịch sử của văn chương nhằm đi đến thống nhất nhân tâm và địa lí. Mục đích thống nhất nhân tâm và địa lí của ông, khi nhập vai hậu sinh là kẻ phê bình tối hậu mọi nền văn học đã qua, thật không dễ nhưng xứng đáng được hi vọng và thúc đẩy. Tiếp đến, Hoàng Ngọc Tuấn nổi bật với Văn học hiện đại và hậu hiện đại qua thực tiễn sáng tác và góc nhìn lí thuyết (2001); Đặng Phùng Quân tái khai minh với Hành trạng tư tưởng giữa hai thế kỉ (2002), Tẩu khúc văn chương triết lí (2004)… Dưới dạng tổng thuật, từ một lưu vực kiến thức bao quát, Hoàng Ngọc Tuấn đưa lí thuyết hậu hiện đại tuôn chảy ào ạt trong trang viết của mình, bắt đầu từ triết học, văn học rồi qua cả âm nhạc. Công trình của Hoàng Ngọc Tuấn thuộc dạng kĩ lưỡng đầu tiên về lí thuyết hậu hiện đại, được viết bằng tiếng Việt và nhập vào trong nước.

            Quá trình tái tạo mình, ở các điểm ráp nối tư tưởng quan trọng nhất, các nhà phê bình cùng có chung một biểu hiện: viện dẫn các nhà tư tưởng phương Tây vang tiếng, thế hệ đã làm nên mùa bội thu tri thức lớn lao trong lịch sử nhân loại, từ R. Barthes, Michel Foucault, đến F.Lyortard và phần nào là J.Derrida… Những cứ liệu đọc và tham khảo để làm giàu kiến thức của nhà phê bình hải ngoại là có hệ thống, cấu trúc luận với J.Culler, R.Scholes; giải cấu trúc với J.Lancan, B.Johnson; nữ quyền luận với S.Beauvoir, R.Stoller…, Ở những mức độ nhất định, đó là việc bẻ ghi mĩ học trên hành trình nghiên cứu phê bình. Bởi cho đến nay, với độc giả trong nước, khuynh hướng mĩ học của các nhà mĩ học Nga thời Xô – viết, trong đó có chủ nghĩa hình thức là nền móng của thi pháp học vẫn tiếp tục chi phối cách đọc và cách viết. Do chỗ đón nhận được lớp sóng tư tưởng, thẩm mĩ và các lí thuyết phê bình mới nên các di sản quá khứ lạc hậu dần được thanh lí và họ từ chối tuần hành theo phương thức phê bình cũ.

P/s: Tôi vẫn không đồng ý những trích dẫn/đăng nào từ bài viết này của tôi.Bây giờ, nghe nói, có nhiều người làm nghề chỉ điểm. Dù cái viết vu vơ này đã từ lẩu từ lâu.

Advertisements

One response to “Phê bình văn học hải ngoại: nhắc một vài cuốn

  1. Pingback: Nhìn nhận nhanh phê bình thơ Việt hậu Đổi mới (kỳ 4) | Văn Việt·

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s