KHÔNG GIAN PHÊ BÌNH VĂN HỌC


            Những bài viết dưới đây cùng khởi sinh [của cô độc!] một lượt, trong bối cảnh rất cần sự lên tiếng bởi một thế hệ đang nghiên cứu-phê bình văn chương, và nhanh chóng được Tia Sáng chấp thuận để tạo thành chuyên đề trên tạp chí này (số 15, 05/8/2013). Trong thái độ hưởng ứng rất trách nhiệm của các tác giả, tôi có niềm vui được đọc những tri kiến sáng rõ, nghiêm túc và có may mắn được tin cậy một vài tâm thái văn chương ở xung quanh mình. Họ đang tạo dựng chính họ và tạo dựng thế hệ, điều quá đỗi thông thường nhưng bao giờ cũng loan báo một cái gì khác thường – nếu được ở trong những đời sống văn học lành mạnh.

            Tôi mạn phép đăng lại đây đồng thời bốn bài viết, theo đúng bản gốc như ban đầu gửi đến Tia Sáng. Nhân đây, tôi xin cảm ơn các tác giả đã vì những lẽ đương nhiên mà cầm bút hưởng ứng: TS. Trần Ngọc Hiếu, dịch giả Cao Việt Dũng, nhà phê bình Đoàn Ánh Dương. Tôi cũng cảm ơn Tia Sáng đã cho những người trẻ một cơ hội để gọi tên thế hệ. Tôi mong là nhiều cơ hội như thế sẽ được duy trì, tiếp nối.

            Tôi không đồng ý trích dẫn nào từ toàn bộ các bài viết dưới đây. Khuyến nghị đọc bản đăng trên website của Tia Sáng: www.tiasang.com.vn

            —

Phê bình văn học Việt Nam hiện nay đang tỏ ra nhiều vẻ: Sự xuất hiện ngày một ồn ào của các bài điểm sách, sự lên tiếng đa giọng điệu của các webiste/blog văn chương, các sách/tuyển tập nghiên cứu – phê bình vẫn đều đặn ra mắt… Đằng sau cảm giác thất vọng vì thiếu vắng những nhóm phái/trào lưu phê bình, theo nghĩa tạo thành trường ảnh hưởng và phổ biến mạnh mẽ, thậm chí có cả cảm giác sốt ruột vì chưa có “roi phê bình” đủ tầm để dẫn dắt “con ngựa sáng tác”, là nhu cầu được tiếp xúc/đón nhận các lí thuyết phê bình thế giới, được đối thoại và xử lí các tri thức văn chương một cách chủ động, công bằng nhằm dẫn đến sự thông hiểu quá khứ – hiện tại. Điều ấy, tuy bề bộn và mở ra cho tất cả những ai hứng thú, nhưng chắc hẳn có liên quan trực tiếp đến thế hệ đang làđang có các không gian phê bình văn học khác nhau: trên báo chí, trong nhà trường, ở viện nghiên cứu… Tia Sáng xin giới thiệu tiếng nói của một vài cá nhân thuộc thế hệ ấy dù khuôn khổ chuyên đề hẳn chưa bao gộp được tất cả sự đa dạng.

           

Hướng đến cái ngoại vi văn hóa: khúc ngoặt của lý thuyết văn chương đương đại

Trần Ngọc Hiếu

            1. Mở mục lục những tuyển tập giới thiệu lịch sử lý thuyết phê bình văn học được xuất bản gần đây ở Anh- Mỹ, có thể nhận thấy một điểm nhỏ nhưng lại gợi suy nghĩ về động hướng của tư duy lý thuyết văn học đương đại: kể từ sau Giải cấu trúc luận (Deconstruction), tên của các lý thuyết phê bình thường có xu hướng gắn liền với các chủ thể văn hóa như Thuyết hậu thực dân (Postcolonialism), Thuyết nữ quyền (Feminism), Thuyết đồng tính (Queer theory), Phê bình chủng tộc và sắc tộc (Racial and Ethnic theory)… Những lý thuyết phê bình này cho đến nay vẫn diễn biến sôi nổi; chúng liên kết với nhau hoặc được cụ thể hóa hơn nữa, tập hợp thành những trào lưu học thuật gây ảnh hưởng. Ví dụ, phê bình nữ quyền liên kết phê bình hậu thực dân dẫn đến sự hình thành của khuynh hướng phê bình nữ quyền-hậu thực dân mà Gayatri Spivak là một đại diện quan trọng; các học giả da đen ở Hoa Kỳ trên nền tảng của phê bình sắc tộc, chủng tộc đã tạo nên cả một dòng lý thuyết Đen (Black Theory). Cũng không hề ngẫu nhiên khi những học giả có quyền năng trong đời sống học thuật đương đại đều là những trường hợp phức tạp về căn tính: đó hoặc có thể là những lý thuyết gia da màu (Gayatri Spivak, Homi Bhabha…) hoặc là phụ nữ (Luce Irigaray, Helène Cixous…) hoặc đồng tính (Judith Butler…)

            Sự trỗi dậy của những khuynh hướng lý thuyết văn học này, thứ nhất, cho thấy nghiên cứu – phê bình văn học giờ đây có xu hướng hòa vào lĩnh vực nghiên cứu văn hóa (cultural studies). Nghiên cứu – phê bình văn học không dừng lại ở những cách tiếp cận nội tại, xem tác phẩm văn học như một cấu trúc tự đủ và “nghĩa” của nó được nảy sinh trong cấu trúc ấy. Thay vào đó, nhà nghiên cứu xem tác phẩm như một sinh mệnh vừa có thể bị thao túng bởi môi cảnh và chủ thể văn hóa, vừa có thể tác động trở lại những nhân tố đó. Từ đó, nghĩa của tác phẩm được đọc ra, được bổ sung hoặc bị mất đi. Phê bình cũng không còn thuần túy là hoạt động cảm thụ, đánh giá, nhận định xem tác phẩm văn học hay ở chỗ nào, đẹp như thế nào, thú vị, lôi cuốn ra làm sao. Nói như Maria Damon và Ira Livingston trong lời tựa tuyển tập phê bình Poetry and Cultural Studies (Thơ và nghiên cứu văn hóa): “Nếu ta trì hoãn lại câu hỏi ‘Bài thơ hay như thế nào?’, thì chúng ta phải bắt đầu xác định rõ cái hay đó có tác dụng cho điều gì, cái hay đó là hay đối với ai, bằng cách nào bài thơ phát huy được tác dụng ấy. Khi ấy, ta có thể ước định được ‘chức năng văn hóa’ mà bài thơ thực hiện”[1]. Rất có thể việc mỹ hóa một nội dung nào đó, một yếu tố của nào đó có tác phẩm lại hàm ẩn sâu xa một mưu toan trấn áp, duy trì sự thống trị của bộ phận nắm giữ đặc quyền trong xã hội. Chẳng hạn, những cách diễn giải sự cam chịu, sự hy sinh của người phụ nữ như là biểu hiện của vẻ đẹp thiên tính nữ chính là cách đọc thể hiện sự thống trị của nam giới.

            Thứ hai, diễn ngôn của những lý thuyết này, như tên gọi của chúng phản ánh, là diễn ngôn từ phía ngoại vi, từ bộ phân phi chính thống của văn hóa. Có điều nên sòng phẳng ngay tại đây: sự tồn tại của cặp đối lập trung tâm – ngoại biên, chính thống – phi chính thống, chủ lưu – phụ lưu… trong cấu trúc của mọi nền văn hóa là một thực tế không thể phủ nhận. Văn hóa có thể ví như hình ảnh phóng đại của một sân chơi, nó có những giới hạn, những luật lệ, những điều kiện: sẽ có kẻ được vào sân chơi, có kẻ bị gạt ra bên lề, có kẻ tuân thủ luật chơi nhưng cũng có kẻ đang chơi thì phá đám, bất tuân luật chơi, chấp nhận bị gạt khỏi cuộc chơi. Bộ phận bên lề sân chơi chính thống ấy hợp thành khu vực ngoại vi của văn hóa. Họ hình thành nên một cộng đồng, thiết lập nên một sân chơi mới, dù ban đầu bao giờ cũng rất nhỏ hẹp, với những trò chơi khác, luật chơi khác của riêng mình. Những trò chơi ấy, đến lượt mình, có khả năng gây áp lực ngược trở lại đối với sân chơi chính thống, nơi trò chơi đang diễn ra có nguy cơ trở nên nhàm, nặng nề.

            Như là diễn ngôn từ phía ngoại vi, các lý thuyết này trước hết là nỗ lực cất lời của những chủ thể mà lâu nay lịch sử của họ bị tước đoạt bởi những kẻ chiến thắng, căn tính của họ được khắc họa bởi thế lực thống trị, màu da, giới tính của họ bị in hằn những định kiến bởi bộ phận chiếm đa số… Đó là những diễn ngôn giải đại tự sự, giải bá quyền văn hóa, chống lại sự đơn nhất, độc đoán của lịch sử, của những chuyện kể mà trong đó, họ chỉ tồn tại như những nhân vật thụ động, không có ngôn ngữ của mình. Hướng đến cái ngoại vi của văn hóa như vậy, công việc nghiên cứu, phê bình văn học thực sự không còn là một hoạt động có tính chất salon, kinh viện. Lý thuyết văn học thể hiện rõ tham vọng can dự, tác động đến ý thức xã hội; nghiên cứu văn học trở thành một sự tự giác của tâm thức, một hành vi dấn thân, hướng đến sự công bằng văn hóa. Trọng lượng của trách nhiệm xã hội và ý thức dấn thân là điều có thể cảm nhận được rất rõ ở nhiều công trình lý thuyết văn học đương đại nhưng lại là điều, thành thực mà nói, đang còn yếu trong nghiên cứu ngữ văn hiện nay ở Việt Nam.

            2. Có một sự phản biện đặt ra ở đây: Liệu ngoại vi hóa có phải là diễn ngôn phù hợp với xu thế khoan dung trong toàn cầu hóa văn hóa hiện nay?

            Đó là một câu hỏi được đặt ra thích đáng nhưng cũng cần thiết có sự thưa lại. Nguy cơ lớn nhất của các diễn ngôn lý thuyết gắn với những chủ thể văn hóa bị ngoại vi hóa là sa vào bẫy của những đối lập nhị nguyên và do đó, trên thực tế, sẽ không thoát ra được logic của cái trung tâm. Điều này lại dẫn đến những xung đột căng thẳng, những định kiến được tích lũy dày thêm. Bản thân các thuyết nữ quyền, hậu thực dân, đồng tính…không phải không có lúc bị sa vào bẫy của logic nhị nguyên này, nhưng nó đã và đang tiếp tục tự điều chỉnh để tạo ra một quan hệ đối thoại cởi mở hơn giữa các chủ thể văn hóa. Nó muốn trở thành một diễn ngôn “khác” chứ không phải diễn ngôn đối lập. Khoan dung văn hóa là một bức tranh lý tưởng về thế giới trong thời đại toàn cầu hóa nhưng để đi đến trạng thái lý tưởng ấy, các chủ thể ngoại vi cần phải có một không gian để được hiện diện, được lên tiếng và được lắng nghe trong tâm thế cùng hiểu lẫn nhau. Không thể có một thứ khoan dung văn hóa theo kiểu đòi hỏi bộ phận ngoại vi tự xóa bỏ mặc cảm và bộ phận trung tâm lắng nghe tiếng nói của cái ngoại vi bằng tâm thế kẻ cả, ban ơn. bell hooks, một nhà lý thuyết nữ quyền luận và hậu thực dân uy tín, đã xem thứ chủ nghĩa khoan dung văn hóa kẻ cả, theo kiểu bề trên này cũng là đối tượng cần thiết phải được phản tư. Bà mô tả nó như thế này:

            Không cần phải nghe giọng nói của chị khi tôi có thể nói về chị tốt hơn chính chị nói về bản thân mình. Không cần phải nghe giọng nói của chị. Chỉ cần kể cho tôi nỗi đau của chị. Tôi muốn biết câu chuyện của chị. Và rồi tôi sẽ kể lại nó cho chị theo một cách thức mới. Tôi sẽ kể lại nó cho chị theo một cách mà câu chuyện ấy sẽ là của tôi, của riêng tôi. Viết lại chị thì đồng thời tôi cũng viết lại bản thân tôi, theo kiểu để làm mới chính tôi. Tôi vẫn là tác giả, tôi có thẩm quyền. Tôi vẫn là kẻ thực dân, chủ thể nói và chị, bây giờ, là trọng tâm của lời nói của tôi.[2]

            Một thứ “khoan dung văn hóa” kẻ cả như thế, đúng hơn, cần phải gọi là một mưu toan đồng hóa văn hóa, thay vì một viễn cảnh như con người muốn nó – một không gian nơi các giá trị văn hóa đa dạng được tồn tại bình đẳng, cho dù đó có thể chỉ là những bộ phận nhỏ, phụ, thiểu số, nơi những sự khác biệt được nhận diện, được lắng nghe với mục đích hướng đến sự hiểu lẫn nhau, thẩm thấu lẫn nhau. Một viễn cảnh khoan dung văn hóa như thế nhân loại đến giờ vẫn chưa đạt được. Nhưng đó là đích mà các lý thuyết văn chương đương đại hiện giờ cũng đang hướng đến.

            3. Hướng đến cái ngoại vi, thiết nghĩ, cũng nên là động hướng cần có của phê bình văn học. Nếu như nhiệm vụ của phê bình văn học là phát hiện, nâng đỡ những cái mới trong sáng tạo thì ta phải thừa nhận một thực tế cái mới nào khi xuất hiện chẳng là một hiện tượng ngoại vi? Rất nhiều những nghệ sĩ sáng tạo quyết liệt bậc nhất là những kẻ chủ động phá đám trò chơi, dạt ra vùng ngoại vi để tạo nên những trò chơi nghệ thuật mới. Không gian ngoại vi ấy cũng là không gian mà phê bình văn học cần bảo vệ bởi lẽ đó là nơi, nói như bell hooks, “đem đến khả năng của một góc nhìn cấp tiến mà từ đó người ta có thể thấy và sáng tạo, tưởng tượng nên những sự phá cách, những thế giới mới”[3]. Những sáng tạo, phá cách, những thế giới mới này tạo nên sự đa dạng, phong phú của cảnh quan văn hóa và viễn cảnh khoan dung văn hóa mà chúng ta muốn nhìn thấy hẳn phải được hình thành trên nền tảng của sự đa dạng, phong phú đó chứ không phải chỉ quanh quẩn vài ba giá trị đơn điệu.

            Và cuối cùng, thiết tưởng, phê bình văn học cần hướng đến cái ngoại vi văn hóa bởi lẽ nhà phê bình cũng nên là “người đứng về phe nước mắt” (chữ dùng của nhà thơ Dương Tường)

 800px-Rembrandt_Harmensz._van

(“Giờ học giải phẫu với bác sĩ Nicolaes Tulp”, 1632, của Rembrandt )

Nghiên cứu-phê bình văn học hiện nay: vấn đề lý thuyết và vấn đề đối tượng

Cao Việt Dũng

            Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học lần thứ III tổ chức tại Tam Đảo tháng Sáu vừa rồi là một dịp để giới lý luận phê bình Việt Nam hội tụ. Đọc và nghe các tham luận được trình bày, tôi thấy có hai điều chính yếu nằm ở trọng tâm của nghiên cứu và phê bình văn học hiện nay nổi lên rõ rệt.

            Thứ nhất là vấn đề lý thuyết văn học. Cho đến nay, dường như rất nhiều người vẫn quan niệm rằng lý thuyết đồng nghĩa với trình bày (lại) về một phong trào văn chương nào đó, trong khi thực chất đó lại là một cách nhìn đối nghịch với cách nhìn của lý thuyết, bởi lý thuyết thường xuyên nhìn nhận văn chương như một tổng thể chứ không phải theo một tiến trình lịch sử. Lịch sử và lý thuyết có sự tồn tại thường xuyên mâu thuẫn với nhau, lý thuyết gia văn học nhiều lúc phải chấp nhận “hy sinh”, ít nhất một phần, lịch sử để thực sự có được một đường lối phân tích theo hướng lý thuyết.

            Một đặc điểm nữa là lý thuyết theo quan niệm nhiều người hiện nay quá nặng màu sắc ý hệ (ideology). Tức là sau rất nhiều năm, trong đó có không ít năm giương cao ngọn cờ “đổi mới”, có vẻ như với các nhà lý luận Việt Nam, lý thuyết văn học đã khoác trở lại tấm áo của tư tưởng chứ không phải là công cụ để đi thật sâu vào các đặc trưng quan yếu của văn học nữa; cùng lúc ấy, sau một thời kỳ “tổng kết lý thuyết”, các nhà nghiên cứu văn học của phương Tây chủ yếu nhìn nhận lý thuyết văn học như là những cuộc phiêu lưu của trí tuệ. Phiêu lưu thì thường nhẹ gánh ý hệ, còn lý luận-lý thuyết nặng ý hệ thì thường trở thành công cụ áp đặt. Đặc điểm này có hai biểu hiện cụ thể dưới đây.

            Thứ nhất, thường xuyên người ta quan niệm lý thuyết phương Tây là những thứ dùng được, áp dụng được vào thực tế Việt Nam; mệnh đề này hàm chứa một hiện thực: càng nhắc nhiều đến lý thuyết thì thật ra người ta càng nghi ngờ lý thuyết, chỉ sử dụng lý thuyết mà thôi, lựa chọn lấy những gì có lợi cho mình dưới chiêu bài những cái khác thì “không áp dụng được ở Việt Nam”.

            Đẩy luận điểm này đi xa hơn, nhiều nhà lý luận Việt Nam đã nhanh chóng đi đến kết luận (có lúc một cách tuyệt đối, có lúc một cách tương đối, uyển chuyển hơn), rằng lý thuyết phương Tây đã thất bại. Và hơn một đại biểu ở hội nghị đã lợi dụng cuốn sách Văn chương lâm nguy của Todorov để nói rằng ngay các lý thuyết gia phương Tây cũng tự thấy mình sai lầm. Hiểu như vậy là hoàn toàn khác, thậm chí là một “cái khác cố tình” so với chủ ý của tác giả cuốn sách; và cách hiểu ấy tự thân nó cũng đi ngược lại đường lối cơ bản của lý thuyết văn học.

            Nói tóm lại, mặc dù đã có nhiều năm dịch thuật và nghiên cứu lý thuyết văn học phương Tây, ở Việt Nam tư duy lý thuyết chưa thực sự bắt rễ vào đại bộ phận các nhà nghiên cứu và lý luận văn học, vẫn tồn tại dai dẳng một thái độ nghi kỵ lý thuyết từng được nêu lên nhiều lần cách đây hàng chục năm. Suy cho cùng, đây cũng chính là số phận của lý thuyết văn học, và rõ ràng lý thuyết không thể được tiếp cận theo kiểu “phong trào ào ạt” như những năm vừa rồi.

            Tại Hội nghị, vấn đề đối tượng của nghiên cứu và phê bình cũng nổi lên, nhất là sau ý kiến của ông Chu Giang Nguyễn Văn Lưu kịch liệt phê phán một số nghiên cứu của nhà phê bình văn học Nhã Thuyên theo nhãn quan chính trị.

            Sự việc này đã kéo dài dai dẳng thời gian vừa qua, nó vừa cho thấy mức độ can thiệp và ảnh hưởng lớn của ý hệ vào hoạt động và nghiên cứu phê bình hiện nay (không khác mấy so với ở mảng lý thuyết văn học) vừa đặt ra một câu hỏi: đối tượng của nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam hiện nay (có thể) là gì?

            Và thêm một lần nữa, cũng như ở trường hợp lý thuyết văn học, theo tôi, hiện lên rất rõ hiện tượng vẫn hay được gọi là “tiêu chuẩn kép” (double standard); ở mảng lý thuyết văn học nó thể hiện ở diễn ngôn theo kiểu “lý thuyết văn học vô cùng cần thiết nhưng lý thuyết này hay lý thuyết kia không phù hợp với thực tế văn học Việt Nam”, còn ở khía cạnh đối tượng nghiên cứu và phê bình thì diễn ngôn ấy có thể phát biểu thành: “Nhà phê bình phải bao quát được mọi hiện tượng văn học xảy ra, nắm bắt cuộc sống và thực tế như nó vốn có nhưng có những điều không được động chạm đến”. Và như vậy, vô hình trung, bất kể phương pháp tiếp cận đối tượng có là như thế nào, một số đối tượng văn học ngay lập tức đã trở thành một cấm kỵ, một cái bẫy.

            Cách nhìn nhận ở cả vấn đề lý thuyết văn học và đối tượng nghiên cứu-phê bình được thể hiện như vậy tại cuộc gặp gỡ quan trọng nhất của giới lý luận-phê bình văn học Việt Nam khiến cho tôi (và hẳn những người cùng thế hệ với tôi) thấy mình được tận mắt chứng kiến những gì tưởng chừng như chỉ có thể diễn ra trong một mảng văn học sử ngày nay rất nhiều người đã muốn quên đi.

 Thế hệ, ý hệ và vấn đề thực hành phê bình văn học

Đoàn Ánh Dương

            Phê bình văn học ở Việt Nam hiện nay xảy ra một vấn đề nghiêm trọng trong việc tạo lập ngôn ngữ chung để/và dân chủ hóa các thực hành phê bình. Câu chuyện thế hệ không chỉ xuất hiện ở bình diện diễn ngôn tri thức/ quyền lực, mà trước hết là một thực tại, chịu sự quy chiếu của quan hệ tôn ti trong các ứng xử xã hội trong và ngoài không gian văn học. Tôi muốn nói đến ở đây sự xuất hiện của một thế hệ các nhà phê bình thường được gọi là “phê bình trẻ”, sinh vào những năm trước và sau 1975, trưởng thành trong không khí của thời đổi mới và hội nhập, tham gia vào đời sống văn chương chủ yếu từ những năm đầu của thiên niên kỷ mới, khi quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh mạnh mà Việt Nam trở thành một đất nước thành viên; cách họ thực hành phê bình, và cái cách mà một bộ phận của thế hệ đi trước soi xét ý hướng, quan niệm, thao tác và sản phẩm phê bình ấy như là biểu hiện và/hoặc hệ quả của cá tính và số phận họ, điều mà họ chỉ được tạo tác chứ không/chưa được quyết định.

            Phê bình trẻ ở Việt Nam đương đại có một đứt gãy đáng kể về mặt ý hệ với các nhà phê bình đi trước, điều chưa từng xảy ra trong lịch sử phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX. Các thế hệ phê bình trước 1945 chia sẻ chung một kinh nghiệm văn chương và xã hội trong bước chuyển đổi của dân tộc từ phong kiến sang thực dân hóa, làm thành sự trồi sụt khác nhau trong cùng một quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Các thế hệ phê bình sau 1945 lại chia sẻ chung một di sản ấy, dù từ đấy để sinh thành các ý hướng khác nhau bởi các ý hệ khác nhau về dân tộc và hiện đại. Các nhà phê bình trẻ khác với thế hệ đi trước đang cùng tham gia vào đời sống văn học đầu tiên ở thực tại đất nước trong giai đoạn trưởng thành tính cách: họ không bị/được trải nghiệm chiến tranh, kinh nghiệm quá khứ như một gia tài luôn bị cật vấn bởi sự bác tạp ngày một nhiều hơn của các thông tin ngoài căn bản học đường, giao lưu văn hóa quốc tế rộng mở và nhất là internet dù chưa khiến họ trở thành “công dân thế giới” nhưng đã đưa họ tham dự vào không gian khu vực và quốc tế. Sự khác biệt trong kinh nghiệm đời sống và thẩm mỹ, theo đó, làm thành sự khác biệt trong ý thức của họ về văn chương và cuộc đời. Đối mặt với thực tại phân hóa, họ kiến tạo bản sắc của mình, và chính bản sắc được kiến tạo này sau đó quay lại đòi giải mã thực tại phân hóa làm sản sinh ra nó. Văn chương trở thành câu chuyện cho các tái khám phá của họ. Phê bình theo đó, không là mặt trận, không định hướng, không phán xét, mà là hành vi đồng sáng tạo. Cũng theo đó, phê bình không là một công cụ, một thiên chức, một nghề nghiệp, mà là một phương thức tham dự vào cuộc đời.

            Sự thay đổi trong quan niệm dẫn tới những thay đổi trong thực hành phê bình. Chính ở chỗ này, và gần như là điều duy nhất, phê bình trẻ tập truyền thế hệ đi trước, nhưng là một học tập để vượt qua. Phổ biến lý luận phương Tây và ứng dụng trong phê bình, thành tựu lớn nhất của phê bình thời đổi mới, trở thành một bước đi cần thiết nhưng nhanh chóng trở nên xơ cứng bởi tính chất minh chứng cho mô hình hoặc cắt xén thực tại cho phù hợp với mô hình được vận dụng ấy. Tính chất xơ cứng của mô hình “lý luận và ứng dụng” khuyến dụng những phê bình trường hợp mang tính điển hình hóa đã triệt tiêu những phê bình trường hợp mang tính đại diện, nơi ghi nhận dấu ấn tương thích hoặc khả năng phê phán mô hình bởi tính địa phương dị biệt của đối tượng nghiên cứu như một bổ khuyết cho lý thuyết, tạo nên tính năng sản của nó. Chính từ đây, sự tiếp biến các lý thuyết phê bình văn học mới và việc lựa chọn các đối tượng nghiên cứu mới làm thành sự khác biệt của phê bình trẻ, nguyên nhân của các bất đồng ngôn ngữ phê bình khi một bộ phận của thế hệ phê bình đi trước mang quan điểm gia trưởng để phán xét nó.

            Những phản ứng gần đây của một số nhà phê bình về việc du nhập các lý thuyết mới, như những lý thuyết phi marxist, những lý thuyết đương đại phản tư nhất thể hóa và hợp thức hóa quyền lực và tri thức, những lý thuyết khẳng định vị thế và sự can thiệp của trí thức đối với xã hội và quốc gia – dân tộc,… đặt ra một số vấn đề ý hệ đáng chú ý. Tại sao chủ yếu những tiếng nói lên án lại xuất phát từ thế hệ phê bình không trẻ? Tại sao một số vấn đề mang tính toàn cầu lại được cho là không xuất hiện ở Việt Nam? Tại sao lại từ chối một số lý thuyết như là một thành tựu của tư duy loài người, giúp loài người hiểu sâu sắc hơn thực tại và chính bản thân?… Có một thực tế là, có một bộ phận không nhỏ các nhà phê bình đã không tư duy cùng với sự phát triển. Quan điểm gia trưởng khiến họ áp đặt cái nhìn của bản thân cho các thực hành phê bình khác, từ khuyên nhủ, đến từ chối, thậm chí phủ nhận, lên án và quy chụp. Vẫn biết, thiết chế luôn lựa chọn tri thức hợp thức cho nó, nhưng không vì thế mà được áp đặt và/hoặc triệt tiêu các tri thức khác.

            Như một hệ quả của việc thực hành phê bình từ các điểm nhìn mới, đối tượng của phê bình cũng trở nên đa dạng hơn. Ở đây phê bình trẻ tiếp tục mắc vào vấn nạn của các lên án về lựa chọn đối tượng. Tại sao lại có việc khoanh vùng đối tượng? Tại sao đối tượng này xứng đáng phê bình hơn đối tượng kia? Ngay ở nhận thức này, phê bình cũng mang tính gia trưởng, ở sự áp đặt và sự tự cao tự đại của nó. Phê bình luôn là cuộc thăm dò cái lý của sự tồn tại chứ không phải chỉ ra cái tồn tại hợp lý. Bởi nó không thể xác quyết câu trả lời hợp lý với ai, ai có quyền quyết định tồn tại ấy là hợp lý, cho ai và vì ai? Vì sao phê bình quan thiết đến văn học tinh hoa trong khi văn học thông tục đang phát triển mạnh mẽ, tác động sâu rộng tới công chúng lại không được phê bình để ý? Và ở một khía cạnh khác, sao văn học dòng chính hiện diện rầm rộ được cho là đối tượng của phê bình còn văn học dòng ngầm èo uột thì không? Theo đó, dư luận xung quanh nhóm Mở miệng và việc phê bình Mở miệng gần đây, để có thể nhìn nhận một cách thấu đáo, điều trước nhất là phải trả lời cho được những vướng mắc trên như là một hoàn cảnh của việc nhận thức và đánh giá.

            Một nền phê bình lành mạnh là một nền phê bình thúc đẩy sự phát triển của tư duy văn học. Muốn thúc đẩy được tư duy, ngoài việc theo đuổi sự vận động của mỹ học, nhà phê bình ở mỗi thế hệ đều phải cố gắng tạo lập một ngôn ngữ chung, bởi ngôn ngữ nào thì tư duy ấy, tư duy nào thì soi chiếu ý hệ ấy. Bất đồng ngôn ngữ thì không thể đối thoại, biết ngôn ngữ khác mà cố ý lờ đi thì đối thoại bất thành, hoặc chỉ có áp đặt mà không có đối thoại. Một nền phê bình không có đối thoại là một nền phê bình bảo thủ. Một nền phê bình không chấp nhận những tiếng nói khác, những suy tư và thực hành phê bình khác là một nền phê bình độc đoán. Tất cả cho thấy quan điểm gia trưởng trong phê bình, ở cả góc độ tư duy lẫn đời sống, báo hiệu cho nhiều sự xói mòn khác nữa, của công lý, luân lý và đạo đức. Một đất nước có thể không cần trau dồi văn học, như nền cộng hòa lý tưởng của Plato, nhưng không thể không cần xiển dương công lý, luân lý và đạo đức. Không tưởng thưởng công lý, luân lý và đạo đức, phê bình văn học sẽ hủy hoại vị thế và tương lai của nó./.

Dogville

(Cảnh trong phim Dogville, 2003, của Lars von Trier)

Một nhu cầu nghiên cứu văn chương: đối thoại văn hóa

Mai Anh Tuấn

            1. Có một thực tế hiện nay xảy ra với nhiều người trẻ nghiên cứu văn chương là dường như việc chọn đề tài đã rơi vào tình thế cạn kiệt. Với những ai sẵn lòng thao thức tìm biết và mong có chút dấu ấn cá nhân trên “hành lộ nan” nghiên cứu, dù ở cấp độ nào, thì họ thường đứng giữa hai lựa chọn không mấy dễ dàng: phải tìm kiếm một đối tượng mới hoặc phải làm mới đối tượng đã biết bằng phương pháp mới. Câu hỏi quen thuộc đến mức ám ảnh “có đóng góp gì mới không?” ở mỗi lựa chọn cũng là thứ áp lực để kích thích tinh thần dấn thân của người nghiên cứu cho dẫu chính họ, bởi tất cả sự khởi đầu chập chững, chưa chắc đi tới nẻo thành công. Trong bối cảnh văn học đương đại, khi mọi kênh thông tin đã dày lên từng giây phút, khi nhu cầu đuổi kịp tốc độ cập nhật tri thức đã bức thiết từng ngày, thì việc thỏa mãn các điều kiện về độ khả thể trọn vẹn của một đường hướng nghiên cứu lại càng khó khăn. Không ít trường hợp rơi vào một quá khứ khoa học xã hội từng duy trì quán tính làm việc hết sức khôi hài như nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương, người cũng có thâm niên trong giảng dạy đại học, đã thâm trầm chỉ ra: “Minh họa các kết luận chính trị bằng các chất liệu, các dữ kiện khoa học hóa, thậm chí đón ý và phụ họa các định kiến của những nhân vật quyền lực nào đó đã kịp trở thành “tác phong khoa học” không quá lạ lẫm ngay ở các đại diện của cả một số ngành vốn được coi là “mũi nhọn” [4]. Tuy nhiên, nếu nhìn một cách không quá khiêm tốn, thì khoảng chục năm trở lại đây, nghiên cứu văn chương, ở tính chất hàn lâm nhất, vẫn gắn với nhà trường hoặc các viện nghiên cứu, nơi cho chúng ta nhìn thấy ý thức tái sử dụng hoặc chiết xuất các lí thuyết/phương pháp nghiên cứu đa nguồn trong việc “đọc có thẩm quyền” lịch sử văn học dân tộc, trong quá khứ và hiện tại. Chẳng hạn, sự tái xuất của phân tâm học, hiện tượng học, thông diễn học, hay sự có mặt trở nên thời thượng của hậu hiện đại, hậu cấu trúc, nữ quyền luận, diễn ngôn… đã hút vào đó một lượng không nhỏ những luận văn/tiểu luận/công trình, những hội thảo, những nhà nghiên cứu có tham vọng xác lập tiếng nói đích đáng của mình. Đáng chú ý hơn, cũng từ/trong môi trường học thuật có sự chung đụng của tình trạng đại nghị lí thuyết như thế, chúng ta nhận ra nhu cầu được đối thoại, trước hết là ý tưởng, cách thức triển khai, và sau nữa, rộng hơn, là quan điểm, cái nhìn của mỗi cá nhân/thế hệ về văn chương và các giá trị hữu lí có thể đạt tới của nó. Chính nhờ đây, không khí lành mạnh và sang trọng của khoa học văn chương mới được lan tỏa và cơ hồ trở thành nét hấp dẫn khiến người nghiên cứu bước vào với tâm thế hào hứng thay vì e ngại, mệt mỏi.

            Thực ra, xét ở phương diện tư tưởng, thì lịch sử nghiên cứu – phê bình văn học hiện đại ở ta có lẽ là lịch sử của những đối thoại. Những nghiên cứu ra đời sau bao giờ cũng hướng tới đối thoại với công trình trước đó. Những chủ thể nghiên cứu trong những bối cảnh văn hóa khác nhau có xu hướng đi tìm những đối thoại với bối cảnh không cùng tính cách. Thời gian không quá đỗi bất công khi mà số lượng những công trình mang dáng dấp “của tin còn lại” đều xuất phát ít nhiều từ phẩm chất đối thoại cẩn trọng, tinh anh và nó cũng sẵn sàng thích nghi với sự thanh lọc qua đối thoại. Bởi đã có thực thể văn chương được nảy nở trong các khúc ngoặt lịch sử và văn hóa tuy liền kề nhưng có sự khác biệt sâu xa, từ văn hóa thực dân – phong kiến trước 1945, đến văn hóa xã hội chủ nghĩa, văn hóa đô thị miền Nam, văn hóa thời kì hội nhập quốc tế…, nên sẽ không ngạc nhiên nếu các kết quả văn học sử, phê bình văn học vẫn còn đó độ vênh lệch, khuyết thiếu hoặc nhầm lẫn nhất định. Chưa một ai và cũng chưa lấy gì đảm bảo rằng đã có và chỉ duy nhất một bảng hệ chuẩn mực đại diện cho tất cả những diễn biến sinh động, phức tạp của văn học hiện đại. Nhưng điều dĩ nhiên đúng khiến chúng ta nảy sinh cảm giác tin cậy là, chính trong hoạt động khoa học văn chương, luôn dự sẵn các kết luận, đáp số đưa ra chưa phải là hoàn tất và hẳn sẽ còn được xem xét lại, bổ sung, hoàn thiện dần thêm. Đấy không chỉ là thao tác nằm lòng mà còn như một động lực thúc đẩy sở học trong mỗi đương sự tham gia văn học.

            2. Một thực tế khác là xã hội chúng ta hiện nay, cái lồng ấp sự trưởng thành của người trẻ như lâu nay vẫn nghĩ, đang có những không gian văn hóa mới và chúng khá gần gũi, tương thông ít nhiều với thế giới. Sẽ rất mất thời gian để có sự đồng đẳng văn hóa giữa các quốc gia/khu vực nhưng trước hết, các khác biệt sẽ ngày càng lộ rõ và càng đẩy các không gian văn hóa tiến đến đối thoại, tránh “đụng độ” (như luận điểm nổi tiếng của S. Huntington). Nhiều người đã lên tiếng và không hề thờ ơ trước tình trạng “đồng sàng dị mộng” của mỗi thế hệ trong một gia đình, một đơn vị/tổ chức xã hội, kể cả trong giới cầm bút. Định danh “văn chương 8x, 9x”, thoạt tiên tưởng rất mơ hồ, nhưng lại đẩy cao được đặc tính tâm thái thế hệ, một thế hệ đang ngấp nghé khoái cảm công dân toàn cầu với khả năng vươn tới hai-văn hóa, đa-văn hóa. Tình huống “quá độ” từ “đơn” sang “đa” này cũng không phải là ngoại lệ. Robert M. Young, nhà nghiên cứu nổi tiếng Hoa Kỳ, khi nói đến các trải nghiệm về văn hóa của mình, từng than phiền rằng, khi còn bé, ông chỉ hiểu ‘văn hóa’ là những gì mà giới giàu có đang làm, xem kịch, nghe nhạc giao hưởng, triển lãm nghệ thuật. Không ai nói với ông phim ảnh, nhạc jazz, thứ pop thô thiển hay áo xuống thời trang cũng là văn hóa. Về sau, ông ý thức rằng, văn hóa không chỉ là những giá trị đã tồn tại mà còn là các lối/kiểu sống. Khái niệm không gian văn hóa (cultural space) của ông được mở rộng tối đa: Nhà cửa, láng giềng, trường học, góc phố, nhà máy, điệu disco, kịch dài tập, quán xá, chợ búa, nhà tù, khu mua sắm, văn phòng, nghề nghiệp, hội thảo hay nhóm nghiên cứu, cơ sở giáo dưỡng tâm thần hoặc tâm lí trị liệu, sòng bài, bể bơi, lớp yoga, phòng tập thể hình, quán bar đồng tính, rạp chiếu bóng,… nghĩa là bất cứ nơi đâu con người tụ hợp và hoạt động trong các cách liên kết với hoạt động thông thường, các giá trị và mối quan hệ xã hội[5]. Nhìn kĩ, các không gian này cũng đang lắp ghép nên đời sống tinh thần, cấu trúc xã hội Việt Nam. Sẽ không ngạc nhiên nếu chúng được chuyển hóa vào văn chương và sẽ không dị ứng nếu vào một ngày đẹp trời xuất hiện một tiểu luận/nghiên cứu về nhạc jazz trong văn chương Việt! Tính chất dân chủ hóa văn hóa khiến người nghiên cứu phải thâu nạp, tích hợp cả các hiện tượng, vấn đề thường bị xem là nhỏ lẻ, manh mún hoặc phi văn chương theo quan niệm truyền thống để xây dựng lí lẽ, diễn giải của mình.

            Tất nhiên, vấn đề trên còn gắn với một diễn biến khác:  Khi xu hướng nghiên cứu văn học thuần túy tập trung vào văn bản có dấu hiệu chững lại (mà sự giảm “mốt” của thi pháp học là ví dụ) thì sự trỗi dậy của các cách thức tiếp cận ngoài văn bản là lối mở hấp dẫn. Những nghiên cứu như vậy thường khơi dậy hứng thú tìm kiếm các ngữ cảnh bao quanh văn chương, những tác nhân đã làm văn chương trở nên đa diện. Vì thế, các nghiên cứu văn chương giờ đây, đáng bàn luận nhất, lại có thể là một cắt nghĩa về chính trị, lịch sử và nhất là văn hóa, khác với trước đây chỉ chú mục hoàn toàn vào ‘nội dung – nghệ thuật’ tác phẩm như giáo án bài giảng phổ thông. Nói cách khác, một trong những nhu cầu nghiên cứu văn học chính là được trình bày một đối thoại văn hóa.

            3. Nhưng lại vẫn muốn biết, phải thế nào để có đối thoại văn hóa thực sự ? Hẳn những ý tưởng dưới đây, mà tôi có nhiều đồng cảm, là một kênh tham khảo cho câu trả lời: Những mặc địch bất khả xâm phạm có thể được phơi mở và phi rào cản khám phá; Những thứ có vẻ ghê tởm có thể được nói lên và được nghe; Mọi người đều có thể mưu cầu/theo đuổi sự hiểu biết sâu rộng về sự đa bội và đối nghịch trong ý kiến và tư tưởng; Bằng việc lắng nghe tích cực và nói lên sự thực từ viễn cảnh của chính mình, mọi người có thể trải lòng quan điểm của mình về điều mình đã từng làm được; Ngay ở lúc có sự bất đồng và phản đối, thì tình thương và sự hiểu biết có thể thay thế thù ghét; Mọi người có sự khác biệt lớn lao có thể liên kết với nhau một cách thân thiện và tôn trọng…[6] Khi các đối thoại được khởi phát với niềm tin và những nguyên tắc như vậy, thì, xét trong phạm vi phê bình – nghiên cứu văn chương, chúng ta hẳn xây dựng được một hàm lượng văn hóa đủ để điều hòa lời lẽ, tư duy.


[1] Maria Damon & Ira Livingston [chủ biên], Poetry and Cultural Studies: A Reader, University of Illinois Press, 2009. trang 2.

[2] bell hooks, “Marginality As a Site of Resistance” in Out There: Marginalization and Contemporary Cultures, ed. by Russell Ferguson, Martha Gever, Trinh T. Minh-ha, Cornel West,  The MIT Press 1992, p.341-3. (Tác giả chủ ý không viết hoa tên riêng của mình).

[3] Tldd

[4] Trần Ngọc Vương, “Một thế kỉ các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam đối diện với thực tế” trong sách Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ, H., Nxb Tri thức, 2010, tr. 228

[5] Xem thêm bài viết của Robert M. Young tại http://human-nature.com/mental/chap2.html

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s