Những nhà làm phim siêu hạng [2]: Lars Von Trier [P.1]


            Lars Von Trier có lẽ là một trong những đạo diễn bị khó hiểu nhất châu Âu hiện nay. Hầu như phim nào của ông cũng làm khán giả, ngay cả những khán giả tinh tuyển, phải tái nhìn lại khái niệm điện ảnh, khái niệm phong cách cá nhân, phải đương đầu với tình thế vừa thán phục vừa la ó chê bai. Khả năng sáng tạo đến độc sáng của Lars Von Trier làm chúng ta liên tưởng đến một tay chơi ngang tàng, một kẻ biết mình đang phá hoại và khởi dựng từ đầu, một nhà lập pháp cho tác phẩm của mình, bất chấp các luật lệ khác có thể công kích không thương tiếc. Lars Von Trier hợp cùng Thomas Vinterberg, Soren Kragh-Jacobsen và Kristian Levring tạo nên một làn sóng Đan Mạch làm ngỡ ngàng truyền thống Scandinavian vốn từ lâu bị ngự trị bởi Ingmar Bergman[1]. Tất cả họ, nói như Trier, “không phải là chuyên gia” nhưng là “một cú đấm trước mặt tất cả các đạo diễn”.

            Ai bảo xem phim Lars Von Trier mà hiểu ngay, thích ngay thì tôi dám chắc người đó chưa từng đọc phê bình văn học trên báo Văn nghệ hiện giờ! Tuy nhiên, không cần đọc phê bình văn học thì người ta cũng sẽ đi đến một cảm thức dai dẳng rằng, thà bỏ công/sức ra để hiểu Lars Von Trier còn hơn là xem phim Việt dễ hiểu một cách bất ngờ !!!

            Trong loạt bài “Những nhà làm phim siêu hạng” này, tôi có thêm/bổ sung thông tin hoặc cắt bớt một vài đoạn có tính chất chapeaux của tác giả – nhà phê bình phim  Lauren Tiard. Việc duy trì loạt bài này đơn thuần xuất phát từ cảm hứng cá nhân và không hề có ý là tư liệu cho bất kì ai, thậm chí, sẽ dừng lại bất cứ lúc nào. Bởi thế, tôi chưa coi đây là văn bản cuối cùng và sẽ không chấp thuận cho việc phát tán – nếu có. Tôi chỉ có cảm giác là mình được chia sẻ nếu ai đó thích xem phim của những đạo diễn này và có thể viết những bài tiểu luận phê bình chuyên sâu về họ, điều đang quá thiếu ở xung quanh như tôi thấy.

Sinh 1956, Copenhagen, Đan Mạch

Đạo diễn của các phim: Nocturne (1981), Pictures of a Liberation (1982), The Elenmen of Crime (1984), Epidemic (1987), Zentropa [Europa] (1991), Breaking the waves (1996), The Idiots (1998), Dancer in the Dark (2000), Dogville (2003), Manderlay (2005), The Boss of it All (2006), Antichrist (2009), Melancholia (2011)

Phim tôi thích nhất: Dancer in the Dark, Dogville, Melancholia

            Lí do để tôi làm phim, khi mới bắt đầu, là bởi tôi có thể nhìn thấy những bức ảnh trong trí óc mình. Tôi có những cái ảo cảnh đó, tôi cảm thấy bị ép buộc chuyển hóa chúng vào máy quay. Và thế là tôi có lí do hay ho để bắt đầu làm phim. Nhưng bây giờ, mọi thứ đã khác: tôi không còn có những bức ảnh trong đầu nữa, việc làm phim thực sự đã trở thành cách thức để tôi sáng tạo nên hình ảnh. Đây không phải là lí do của tôi để việc làm phim phải thay đổi mà là cách tiếp cận của tôi đối với việc làm phim. Tôi vẫn nhìn thấy hình ảnh, nhưng chúng là những hình ảnh trừu tượng, như một sự đối nghịch với trước đây, khi chúng là thứ rất cụ thể. Tôi không rõ việc này xẩy ra thế nào; tôi nghĩ dường như đó là kết quả của việc mình trưởng thành hơn, của sự chín chắn. Tôi thấy rằng khi bạn còn trẻ, việc làm phim là tất cả những ý tưởng và lí tưởng, nhưng rồi, khi bạn già hơn, bạn bắt đầu nghĩ suy nhiều hơn về cuộc đời và có cách tiếp cận khác với tác phẩm của mình. Đấy là điều tạo nên sự thay đổi.

            Mặc dù thế, tôi đã tự nhủ, làm phim phải luôn có cảm xúc. Những gì tôi chú ý về một đạo diễn lớn mà tôi say mê là khi, nếu bạn chiếu cho tôi dăm phút của một trong số các phim của họ, tôi sẽ biết nó là của ai. Và cho dù hầu hết các phim của tôi đều rất khác chúng, tôi vẫn nghĩ tôi có thể nhận ra điều gì tương tự, và tôi cho đó là thứ xúc cảm như những sợi dây buộc tất cả với nhau.

            Bất luận thế nào, tôi không bao giờ bắt đầu làm một bộ phim để biểu đạt một ý tưởng ngoại biệt. Tôi hiểu người ta có thể nhận ra chúng ở những phim đầu của tôi như thế nào, bởi chúng có thể xuất hiện rất mờ nhạt và chân xác, cho dù, trong thâm tâm, chúng luôn là xúc cảm đối với tôi. Nguyên nhân những phim tôi làm gần đây hình như đã xuất hiện khỏe khoắn hơn, lời lẽ xúc động, là do, như một cá nhân, tôi nghĩ tôi đã trở thành người chuyển tải cảm xúc tốt hơn.

            Khán giả là khán giả nào?

            Tôi tự mình viết những kịch bản. Tôi không có chú trọng quá đến quan điểm về thuyết tác giả (the author theory) cho dù bộ phim duy nhất mà tôi chuyển thể từ kịch bản của người khác là phim tôi chẳng thích tẹo nào. Bởi thế tôi cho rằng có sự khác biệt giữa việc tự mình viết kịch bản và chuyển thể kịch bản của người khác. Nhưng là một đạo diễn, bạn nên biết cách dùng tác phẩm của người khác và biến nó thành của mình. Mặt khác, một cá nhân cũng có thể quả quyết rằng, ngay cả khi mình viết điều gì đó về chính mình thì nó luôn dựa vào những điều mình đã nghe, đã thấy, và do vậy, theo nghĩa nào đó, nó cũng không hẳn là của bạn. Tất cả chúng đều ít nhiều độc đoán đối với tôi.

lv

            Tuy nhiên, điều tôi thực sự thấy chắc chắn là, bạn phải làm bộ phim cho chính bạn chứ không phải cho khán giả. Nếu bạn khởi/bắt đầu bằng suy nghĩ về khán giả, tôi dám chắc bạn sẽ sai đường lạc lối và thất bại.Tất nhiên, bạn phải có tham vọng nào đó cho việc liên kết với các phim khác, nhưng là dựa trên toàn bộ những phim bạn chưa từng làm. Bạn phải làm bộ phim vì bạn mong muốn chứ không vì bạn nghĩ rằng khán giả trông đợi/mong muốn thế. Nó là cái bẫy và là cái bẫy mà tôi đã thấy ít nhiều đạo diễn mắc vào. Tôi xem phim thì tôi biết đạo diễn đã làm nó bởi những lí do sai lầm nào và rồi anh ta không làm nữa vì anh ta mong muốn điều gì sâu sắc.

            Như thế không có nghĩa là bạn chẳng thể làm những phim thương mại. Nó chỉ có nghĩa là bạn hãy yêu thích bộ phim trước khi khán giả thích. Đạo diễn Steven Spielberg từng làm nhiều phim thương mại, nhưng tôi dám chắc rằng tất cả các phim ông ấy làm đều là những phim mà ông muốn tự mình xem lần đầu và trước tiên nhất. Đấy là lí do họ làm phim.


[1] Bốn ông này được coi là làn sóng thứ nhất trong điện ảnh Đan Mạch. Nhưng vì đã tươi tốt thì không được ỉu xìu đột ngột, nền điện ảnh này đang có làn sóng thứ hai với những gương mặt cũng rất đáng kể: Lone Scherfig, Suasanne Bier, Ole Christian Madsen, Ake Sandgren. Trong khi đó, điện ảnh Thụy Điển sau I. Bergman thì có vẻ lép vế hơn nhiều.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s