Tôi ở cùng những chữ hôm nay


Nhớ thuở sinh viên Văn khoa 17 viễn vông cay đắng u buồn, tôi và vài người bạn thường hay đọc thơ Vũ mỗi khi lặng im chén rượu. “Ba gã da vàng ngồi uống rượu/Buồn như sỏi dưới hang sâu” có lẽ đã khía vào nỗi cô đơn mơ hồ nào đó mà lứa tuổi xanh xao hoài niệm cứ bỗng nhiên tự cho là mất mát, tổn thương. Chúng tôi yêu mến gọi thi sĩ bằng tên, trong định danh Vũ – Quỳnh, và coi thanh âm ấy như biểu tượng tuyệt đẹp của tình yêu-thơ ca, sống-sáng tạo. Bởi những nguyên cớ đồng điệu nào đó, chúng tôi dần dà thuộc lòng thêm nhiều thơ Vũ, chủ yếu từ di cảo được xuất bản, và vỡ lẽ thêm phẩm tính thi ca thầm lặng trong ngăn kéo mà sinh thời, Vũ chủ ý cất vào. Cho đến khi quá nổi tiếng với tư cách nhà viết kịch, Vũ vẫn viết thơ như là viết nhật kí và ở nhật kí-thơ này có những thật trang đặc biệt, gắn với “những năm đau xót và hi vọng” của Vũ: những năm đầu thập niên 1970. Tôi đã ghi lại cảm nhận của mình về thơ Vũ giai đoạn này, lần đầu vào tháng 8/2008 và điều chỉnh vài câu ở vài lần sau đó, chẳng hay ho đặc biệt gì, nhưng mà như được mênh mông thêm chút thoáng phù du xuân thì. Cho đến dịp này, tròn 25 năm ngày mất Vũ-Quỳnh (29.8.1988 -29.8.2013), tôi mới có ý định đăng báo nhưng rồi không được. Tôi cảm thấy điều ấy thật dễ chịu với lòng mình. Đăng lại đây, dành tặng VyCam, vừa bốn năm hoa vàng một đóa, và cả những bông hoa trắng đang như gió một mình.

1. Hiện – thực – phố

 “Năm 1970,  Vũ xuất ngũ […] Tiếp sau đó là những năm tháng cực kì gian nan, vất vả của đời Vũ. Rời bộ đội, chưa có công ăn việc làm, hạnh phúc riêng lỡ dở  […]. Đây là thời kì Vũ sống nặng nề, khó khăn nhất và không khỏi có lúc bi quan” [i]. Lời kể của người thân và một vài kí ức của bạn bè về  thời gian ngắn ngủi này trong cuộc đời Vũ giúp ta hình dung: Vũ lang thang trên đường phố, thất vọng, tá túc ở đâu đó, thường là trong ngôi nhà của người bạn thân, nơi có chiếc máy quay đĩa cổ phát lên những bản nhạc của Mozart, Schubert, Beethoven và Tchaikovski; Vũ ngồi câm lặng góc phòng, lúc gục mặt ôm đầu gối, lúc ngửa mặt, đôi mắt rực sáng xa xăm…([ii]) Từ chiến trận trở về, bàn tay cầm súng, bàn tay thơm phù sa của Vũ buông thõng giữa im lặng và hoài nghi. Vũ không biết làm gì hơn ngoài viết. Viết có thể là ban mai và nước uống của Vũ lúc đó. Năm 1973, Vũ tái hôn Xuân Quỳnh. Cuộc sống gia đình họ, dĩ nhiên, sẽ có điểm khác hơn.

Những dòng viết lặng lẽ bung trào trên giấy, nằm gục trên giấy, sau mùa hè định mệnh 1988 rất lâu, người ta mới phục sinh nó, một cách dè dặt. Nhưng mẩu phù sa dẫu có hóa thành trầm tích, cũng đủ thấy bát ngát cánh đồng. Thơ Vũ thời ‘71 – ‘73 là cánh đồng riêng lẻ, hoang vắng và bất thường. Cánh đồng ấy được gieo bởi một tâm hồn giông bão, chằng chịt vết thương, vừa của cá nhân vừa của thời đại. Hạt giống cảm xúc vung từ bàn tay thơm phù sa của Vũ, trong căn phòng sáu mét vuông lấm lem mùi khói bom vẫn không ngừng bốc cháy trên bầu trời thành phố, đã tạo nên những hình tượng, sắc màu khác biệt và thậm chí, lạ lẫm như sắc màu của Picasso và Matisse mà Vũ từng thán phục. Nhưng sau một khúc sonata, chiến tranh lại lan nhanh dữ dội trong từng hẻm phố, và cái chết, dù thế nào, vẫn là điều có thật nhức nhối nhất lúc này. Vũ không muốn băng bó vết thương ấy, cứ để tự nó sưng tấy trong thơ. Giọng thơ, vì thế, trở nên buồn, ưu tư và đau đớn. Tôi ngồi nhẩm lại những bài thơ được Vũ ghi rõ năm sáng tác trong giai đoạn này và thấy rằng, nhìn cả đời thơ Vũ, thì ‘71 – ‘73 thực sự là cuộc phơi mở triền miên và tận cùng về hiện thực đời sống, về thế giới xung quanh lẫn thế giới nội tâm. Nhưng trước khi phơi mở nó, Vũ đã muốn chống lại nó ([iii]).

Phố trở thành không gian được phơi mở nhiều nhất trong thơ Vũ giai đoạn này. Bởi nó gắn chặt với những dấu giày lang thang, lạc điệu của Vũ. Đó là nơi Vũ bị ném quăng, đẩy xa và bị làm đầy bởi những điều trông thấy. Hơn nữa, nó là cái đang là của cuộc sống thường ngày, của mỗi cá nhân và cộng đồng, của cuộc chiến ngày một khắc nghiệt. Lưu đày giữa phố, Vũ có cái nhìn về hiện thực rất khác, hoàn toàn không giống với cái nhìn của những người cùng thời, điều mà tôi tạm gọi là phản-suy niệm thế hệ. Tính chất phản-suy niệm thế hệ tập trung biểu lộ một hiện – thực – phố khác xa với hiện thực Trường Sơn “đường ra trận mùa này đẹp lắm”, với hiện thực hầm chông “nơi hầm tối là nơi sáng nhất”, với hiện thực “sáng trên đầu một mảnh trời xanh” của anh giải phóng quân ([iv]).  Hiện – thực – phố, ở một vị trí khác nhưng cùng góc nhìn, được Trịnh Công Sơn viết trong phụ khúc Da vàng: “Những khúc hát này đúng ra không nên có, nhưng bởi trên những con đường, những thành phố và những xác chết của tháng 5 – 1972, một lần nữa tôi không thể quên đi tiếng kêu thất thanh của đám người cùng khổ. Cuộc chiến đã không muốn ngừng, và có lẽ còn mang nhiều bộ mặt mới mẻ, thảm khốc hơn”. Và bằng một cách thức tỉnh lạ lùng, chính hiện – thực – phố này đã hóa thân trong tiếng hát phản chiến say đắm, trung thực nhất, nơi về sau, chúng ta nhận ra ở nó lẽ sống yêu thương và khát vọng hòa bình vĩnh viễn.

Phản – suy niệm thế hệ không có nghĩa là quay lại, vô cảm với hiện thực. Nó chỉ không bằng lòng với thế hệ về cách phản ánh hiện thực. Nó bắt đầu gượng dậy, tách ra để tái tạo hiện thực trong số phận cá thể mà ở đó, cái nhìn thấy bao giờ cũng được bảo lưu, không tô hồng, không cường điệu. Vũ chỉ viết về hiện – thực – phố dưới cơn sốt của cảm xúc mà sự trải nghiệm thấm thía của chính anh, đôi khi, muốn chống lại nó.

Hiện- thực – phố là sự quan sát không gian có tính liệt kê, chậm và đều, chi tiết gần như cuốn phim tài liệu được gián đoạn bởi lỗi kĩ thuật cố ý. Mức độ liệt kê chậm đến mức, phần lớn hiện thực bị/ được giữ đúng tư thế:

Tên những con chó hoang, những quả bom, những đứa giết người, những thằng lừa dối

Tên những dãy phố nghèo u tối

            (Những chữ, 1972)

Phố ngoài kia ngột ngạt những toa tàu

Tiếng bán mua tiếng cãi chửi ồn ào

Những nhà cửa nhỏ nhoi những mặt người bụi bẩn

            (Từ biệt, 1972)

            Hay:

Chúng mình chẳng nhận ra nhau

Đứng giữa hai ta là những người đã chết

Bóng họ che đen sì cả mặt

Những vết thương rách nát

Những nụ cười từ lâu đã tắt

Như tuổi trẻ sớm tàn trong cay cực của ta

            (Mặt trời trong nước lạnh, 1972)

Cái lỗi kĩ thuật ở đây chính là cách pha sắc thái tính từ rất đậm, thường là những tính từ kém vui, kém hào sảng, nghĩa là sự quan sát hiện thực ấy tự thân không dứt ra được ý nghĩ phải nghi ngờ, chất vấn. Các sắc thái tính từ chen vào để gồng gánh câu trả lời hoặc đưa ra những nhận xét đáp trả sự chất vấn vừa vụt qua. Chính vì thế, cũng trong hiện – thực – phố, Vũ có thể liên tưởng một hiện thực xa hơn như là để thỏa mãn việc làm đầy thực tại. Mượn cái xa thực chất là nói cái ở gần, cái trước mặt và trần trụi: “Chúa của tôi ngồi ở bên đường/ Ngủ gục trên nắp hầm trú ẩn/ Chúa của tôi bom thiêu cháy xém/ Chúa của tôi hát xẩm trên tàu điện/ Chúa của tôi bới gạch vụn tìm con/ Chúa của tôi đêm nay lang thang/ Không cửa không nhà vật vờ đói rét”  (Cầu nguyện, 1972); Hay: “Ông luật sư ăn mày cửa chợ/ Phật thích ca đẩy xe bán cá/ Chàng Kim Trọng cúng Sở Khanh gian dối” (Móng tay trên đá, 1973). Chúa, Phật, Kim Trọng, Sở Khanh…bị đánh tháo gốc gác, dắt díu nhau có mặt “trên phố phường gạch vụn” và buộc phải hoán đảo các giá trị thánh thần vốn có. Ở biểu hiện khác, hiện thực xa lại nằm trong vở kịch, nơi cái đẹp hoặc là tượng trưng cho cái đẹp đã bị hủy diệt mà lạ thay, nó buông màn kết thúc như chưa hề diễn ra: “Những tên hiệp sĩ trung cổ/ Những lão thầy tu mặt nạ/ Đã giết chết Kiều Nguyệt Nga/ Đétzđêmôna; Đun Xinêôphêlia/ Đã giết chết người chơi xen –lô/ Đã giết chết người thổi ô – boa trong dàn nhạc/ Giết chết người chỉ huy ánh sáng”  (Hải Phòng, mùa đông – 1972). Đoạn thơ này, Vũ ráp nối tên các nhân vật văn học và với việc trộn lẫn nó cùng nhiều đối tượng khác, tựa bệnh nói nhịu bẩm sinh, hình như đang là dấu vết của cơn mê sảng. Quan sát hiện thực trong tâm thế ám ảnh, mê sảng thì sẽ không có phản ánh, mô phỏng thuần túy nữa. Tự nó trổ sang chiều sâu nội tâm, cái hiện thực bên trong được trục vớt để phơi bày cùng thực tại.

Vũ thường định nghĩa mình trong giai đoạn này. Phần lớn độc giả đều nhận rõ chân dung anh: hết ảo tưởng nhưng lại cô đơn, tan nát và sợ hãi (Tôi tan nát kinh hoàng sợ hãiLá thu, 1972). Sau hết là vô nghĩa: “Một tấm gương chẳng biết soi gì” (Có những lúc, 1972). Nhưng như vậy, chưa dò thấu hết nỗi ám ảnh của Vũ mà điều này, lại là nội lực cho cách viết của nhà thơ. Nỗi ám ảnh mà Vũ chung sống, xâm lấn anh trong từng hành vi lẫn nhận thức, là, ngoài hiện – thực – phố còn có hiện thực chiến tranh. Hai lớp nhung nham này đốt nóng cảm xúc của Vũ và như hệ quả, hễ viết, Vũ cứ quấn lấy các biểu tượng quen thuộc: lửa, mưa và nhà ga. Ba biểu tượng này, tuy mức độ khác nhau nhưng đều qui về hướng tái hiện thế giới nội tâm Vũ: Lửa – khát vọng trở về cũng là khát vọng tỏa sáng: “Lửa sẽ bùng lên tự soi sáng cho mình” (Mấy đoạn thơ về lửa, 1971); “Đêm nay về đốt lửa giữa hồn tôi” (Lá thu, 1972) hay: “Đánh mất lòng tin/ Tìm về bếp lửa” (Không đề, 1972). Trong nghĩa đó, lửa như là cách đối thoại của Vũ về các giá trị, hoặc là tiêu hủy hoặc là mời gọi sáng tạo. Còn Mưa (trong Khúc hát; Ngã tư tháng Chạp; Mưa dữ dội trên đường phố trên mái nhà), qua dáng điệu và âm thanh của nó, cứ làm tan chảy, mong manh và đổ vỡ những gì đang có. Mưa là điệu hát buồn mà Vũ chẳng hề mong. Với nhà ga, nó không chỉ dựng lên kí ức tuổi thơ Vũ mà nó còn dựng lên, giữa sự đổ nát xung quanh, nỗi thèm muốn ra đi, chạy trốn và cả dấn thân. Nhà ga – con tàu, nó sót lại như di chứng của thời 17 viễn vông, và là sức hút của thế hệ anh, với những chuyến đi chiến trường nhưng ngược lại, nó cũng bị đổ sập bởi cuộc chiến đó, hơn nữa bởi sự chất vấn: “Sao chân em giẫm đạp/ Lên những gì tôi yêu?”(Ngã tư tháng Chạp, 1972).

Cần biết thêm rằng, mưa, lửa và nhà ga đã từng xuất hiện, nếu không nói là thường xuyên, ở hai trong số những tác phẩm văn học viết về chiến tranh thành công nhất: Giã từ vũ khí (E. Hemingway) và Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh). Vậy là, với tư cách người lính trở về, cả ba tác giả, dẫu có số phận cuộc đời khác nhau, đều ít nhiều rơi vào những kí ức giống nhau. Từ đó, trên tác phẩm (khác nhau về thể loại và thời điểm ra đời) đã thể hiện cách nhìn hiện thực, cách phản ánh hiện thực ít nhiều gần gũi. Cả ba đều hướng tới khuynh hướng phản anh hùng và khác với thế hệ, họ diễn giải cuộc chiến vừa qua bằng bi kịch cá nhân.

Bi kịch cá nhân của Vũ sau khi rời chiến trường ấy là cảm thấy mình vô nghĩa. “Còn nỗi buồn trống rỗng/ Sau một đời chiến tranh” (Liên tưởng tháng Hai, 1973). Mọi nỗ lực chứng tỏ giá trị của anh đều không nhận được hồi đáp từ xung quanh. Vì chính xung quanh, giữa thời bạo ngược, “lòng tốt không ai cần đến”. Bài Có những lúc, Vũ viết năm 1972 là sự cụ thể hóa cho bi kịch của anh lúc đó thông qua cấu trúc tăng cấp: từ “những lúc” hàm ý về thời gian, chỉ sự triền miên và lặp lại trong khi, từ “một” (một  chiếc lá khô/ một chồng gạch vụn/ một người nghe/một tiếng chuông dài) là hình dung về cái cụ thể, cũng là cái vĩnh viễn gần như bản chất. Điểm nút của cấu trúc ấy đẩy Vũ đi đến nơi tận cùng: “Nơi tận cùng hoàng hôn/ Trên vỏ chai trống rỗng” (Nơi tận cùng, 1973). Có lẽ, trong khi cảm nhận được độ không bên trong mình, Vũ đã tìm đến những số phận khác, tượng trưng cho sự mộng tưởng và đổ vỡ, mất mát: “Hồn Ô – phê -li – a điên dại/ Ông Đông – ki – sốt đi lại trên đường” (Những ngọn nến, 1972). Cách đẩy hiện thực xa về giữa thực tại, qua lời diễn dịch của người viết, khiến phản ánh chỉ còn là một ý nghĩ mờ nhạt.

2. Về lối viết mang tính kể

Như đã nói, để chống lại ý niệm phản ánh giản đơn về hiện-thực-phố, Vũ đã cố gắng thay đổi lối viết, tức là ý thức về cách viết bây giờ không giống cách viết của thời Hương cây. Ở thời kì đó, Vũ viết theo lối mô tả, mà bản chất của nó thường hàm chứa một niềm tin yêu. Cách phối màu, phối nét trong thơ Vũ những năm tuổi 17 quả chưa thoát được hành văn miêu tả phổ thông, thiên về cảm xúc đẹp, bay bổng. Đến giai đoạn này, lối mô tả bị dìm kín và chính Vũ đã thấy di sản thơ của mình chẳng khác nào là công điểm của “lũ viết thuê” (Ta đã làm gì? như lũ viết thuê/ Chạy theo những biển hàng ngắn ngủi Nói với mình và các bạn, 1970). Vũ tìm đến lối kể, duy trì cường độ dồn dập sự kiện và chi tiết dưới những chuỗi liệt kê đến mức lạnh lùng. Ở bài “Hải phòng, mùa đông”, như một bản tin thời sự, Vũ liệt kê năm sự kiện gắn với “đã giết chết”. Cụm từ này, thật đúng nghĩa của nó, đã giết chết nét hồn nhiên, mơ mộng thuở nào.

Lối kể sự kiện có chủ ý và được bảo trợ bởi một công thức sắp sẵn: cách dùng từ. Thơ Vũ ‘71 – ‘73 ham mê duy nhất một từ “những”. Không chỉ ở tiêu đề bài thơ (Những tuổi thơ; Những chữ; Những ngọn nến; Những người đi năm ấy…) mà hầu như suốt dọc đường quan sát của Vũ, nơi nào có chi tiết là xuất hiện “những” và nhờ vậy, ta có khối tư liệu hiện thực như là bản tốc kí: “Những cánh đồng nằm trong lũ lụt/ Những xóm làng tan hoang/ Những người chết đuối” (Mấy đoạn thơ, 1971) hay: “Những tuổi thơ không có tuổi thơ/ Những đôi mắt tráo trơ mà tội nghiệp” (Những tuổi thơ, 1971). “Những” đôi khi là số nhiều, là cái sự kiện rộng và bề mặt, nhưng đôi khi lại nghiêng về chiều sâu và bị phân chia. Bài Những bạn khuân vác, Vũ viết năm 1971, đi theo hướng phân chia này, nghĩa là sau một cú quay toàn cảnh (những), Vũ chọn đặc tả (một) mà càng đặc tả, càng bịt kín cảm xúc.

Đáng chú ý nhất trong nỗi ham mê từ “những” ở giai đoạn này, với lợi thế liệt kê của nó, Vũ đã hướng tới một bức vẽ khái quát từ việc ném vung chi tiết. Bắt đầu từ 1972, Vũ viết  Đất nước đàn bầu, có dáng dấp một tấu khúc dài và được xây dựng trên cấu trúc chủ đạo: những. Trong tấu khúc này, chúng tôi nhận thấy có 59 từ “những” được dàn đều theo các bè âm khác nhau: tìm lại thời gian đã mất à Hà Nội mùa thu àĐêm hội tái sinh. Điều quan trọng là, số lượng từ “những” đông đảo như vậy nhưng không tham gia diễn tả sức mạnh tổng quát và đám đông, nó không đẩy các bè âm trên đến giọng cao ngất. Định thức chủ yếu của “những” là sự đổ vỡ, chia lìa, buồn. Định thức ấy như sau:   Những + [mảnh bình vỡ nát/mũi tên lăn lóc/ đống lửa tro tàn/ rễ cây quằn quại/ tiếng hú dài/ bộ lạc/ điệu buồn/ người chết/ mặt vàng sốt rét/ bộ xương đói khát/ lính thú đời Trần đã chết/  bờ biển lạ/ tháp Chàm sụp đổ/đoàn người xõa tóc/ nhà ảo mộng/ lời da diết/ cô Tấm/ nàng Kiều/ bầy voi nguyên thủy/ nỗi buồn tê dại/ tượng đá bỗng chập chờn/cụ già say rượu/vết thương xé thịt/…] = cảm niệm về đất nước. Trong cảm niệm đó, ta thấy, chủ đạo phải là sự thức tỉnh về số phận, tình thế dân tộc. Chỉ sự thức tỉnh mới làm cho Vũ đặt tiêu đề Đất nước đàn bầu, mới nghe, đã thoáng buồn da diết.

Chính với lối viết mang tính kể, tức là một cách tiếp cận hiện thực khác so với xu hướng tiếp cận đương thời, sẽ giúp Vũ thăng hoa ở giai đoạn văn học đổi mới qua hình thức khác: kịch. Tôi cho rằng, ‘71 – ‘73 là nguồn gốc của sự thăng hoa ấy. Bản thân sự thay đổi ý thức về cách viết đã khiến Vũ thay đổi ý thức thể loại, từ thơ sang kịch. Vì kịch, trước hết, với tính trình diễn và hiệu ứng xã hội nhanh chóng của nó, giúp Vũ, chỉ nhờ cơn gió Đổi mới vừa tới, tung lên đời tuyên ngôn: “Muốn nói hết sự thật/ Về đất nước của mình” mà lúc này, anh vẫn chỉ “âm thầm” trong tư cách kẻ lạc loài tiền phong.


[i] Hồi ức của bà Lưu Quang Thuận (tức Vũ Thị Khánh) – mẹ Lưu Quang Vũ, trong Lưu Quang Vũ, Thơ và đời, Nxb. VHTT, H., 1997, tr.21.

[ii] Xem thêm Vũ Từ Trang, Lưu Quang Vũ: Tháng ngày lận đận, tại địa chỉ: http://antgct.cand.com.vn, cập nhật ngày 10/5/2005.

[iii] Tôi chỉ chọn đúng những bài thơ (27 bài) được Vũ ghi rõ thời điểm sáng tác mặc dù biết có nhiều bài cũng ở giai đoạn 1971 – 1973 nhưng không được ghi. Làm thế, để gần với văn bản hơn. Những trích dẫn thơ Vũ trong bài viết này lấy từ cuốn Lưu Quang Vũ, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Tuyển thơ, Nxb. HNV, H., 2010

[iv] Đây hẳn là một thực tế dẫn đến định kiến cho rằng thơ Vũ, ở giai đoạn này, là “thơ đen” – bất mãn, hoài nghi chế độ và không được đăng ở đâu. Nhưng chính Vũ đã rất thành thực “Tâm trạng con buồn, con không thể làm thơ vui” (Xem thêm hồi ức của bà Lưu Quang Thuận, Tlđd, tr.22).

One response to “Tôi ở cùng những chữ hôm nay

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s