Lars Von Trier [2]


“Tôi không bao giờ đi xem phim. Tôi hoàn toàn mù tịt về những gì đang xẩy ra xung quanh. Bởi thế, những qui tắc ấy chỉ xảy ra như là một phản ứng đối với những phim của chính tôi. Nó là cách để tôi tự xử trong khi đối mặt với những thử thách. Nghe có vẻ kiêu căng nhưng nó đúng là thế”.

Mỗi phim sáng tạo nên một ngôn ngữ của chính nó

            Chẳng có chuẩn tắc nào cho việc làm phim. Mỗi phim phải tạo nên ngôn ngữ của chính nó. Ở những phim đầu tiên tôi làm, mọi thứ đều hiện ra trên bảng chuyện (storyboard) rất chi tiết. Ở phim Zentropa chẳng hạn, tôi thấy chẳng có hình và cũng không phải là chuyện, do nó rơi vào thời điểm cao trào “thử nghiệm kì quái” của tôi.  Tôi sử dụng rất nhiều kĩ thuật làm phim và tôi lại muốn kiểm soát được chúng, cái đã tạo nên chuỗi ghép hình rất chán ngắt. Rút cục chúng cũng đâu nhất thiết hay hơn. Thực sự Zentropa có lẽ là phim tôi khó ưa nhất cho đến nay.

            Vấn đề xẩy ra đối với việc muốn kiểm soát mọi thứ là khi bạn đã có bảng chuyện và lập kế hoạch tất thảy thì việc ghi hình trở nên vô can thay vì là một trách nhiệm. Và cái điều khủng khiếp của nó là bạn chỉ có thể kết thúc khối dữ liệu được 70% – nếu bạn muốn nhanh – của những gì bạn mong muốn đạt được. Đấy là lí do khiến giờ đây tôi làm phim dễ dàng hơn nhiều. Idiots là phim như vậy. Tôi chẳng mảy may nghĩ phải quay thế nào cho đến khi điều đó thực sự diễn ra. Tôi cũng không lên kế hoạch gì sất. Tôi như là ở đâu đó và tôi đã làm phim là những gì tôi đang nhìn thấy. Khi bạn bắt đầu như thế, thực sự bạn xuất phát từ zero, và mọi thứ xẩy ra như một món quà. Nên chẳng có gì mà vỡ mộng. Dĩ nhiên, nó phải đến từ sự thật rằng chính tôi tự làm phim với một cái máy quay nhỏ. Mà thực ra cũng không phải là máy quay gì cả, nó là đôi mắt của tôi, là cái tôi đang nhìn. Nếu diễn viên hỏi gì đó về chỉ đạo của tôi, tôi sẽ nói qua loa với anh ta, rồi thì bước đến với diễn viên khác nếu họ có hỏi, rồi có thể bỏ đi nếu tôi nghe thấy điều linh tinh nào đó. Tất nhiên, đấy là những thứ mà bạn đã bỏ qua thủ thuật, nhưng bạn phải có một lựa chọn. Một trong những lợi thế lớn của việc quay phim video là thời gian [quay] không còn là ẩn số nữa. Một số cảnh kết thúc chỉ dài một phút trong phim mà nó vốn dài cả tiếng đồng hồ khi tôi quay chúng. Đây là một chiêu thức hay ho để làm[1]. Thế nên từ giờ, tôi sẽ trung thành với video. Nó là thứ ảo diệu để có thể quay, quay và quay. Nhẩm lại vô ích. Tôi mất thời giờ trước khi quay phim để bàn bạc về nhân vật, rồi khi diễn viên biết phải diễn xuất thế nào từ kịch bản, thì tôi mới bắt đầu bấm máy. Có thể tôi sẽ phải quay tới 20 lần. Và bạn không thực sự bực tức gì về việc quay những cảnh đó, cho đến khi bạn ở trong phòng dựng.

Mỗi người đều có những qui tắc

Dogville(Cảnh trong phim Dogville)

            Một số người dường như nghĩ rằng các qui tắc của Dogme 95 được chế ra như một sự phản ứng với những cách thức làm phim khác, như rằng tôi đang cố đặt khoảng cách giữa họ và tôi, để chứng tỏ tôi khác biệt. Trường hợp của tôi không phải thế. Là bởi vì, thẳng thắn mà nói, tôi không hề có suy nghĩ nào về việc làm phim của người khác. Tôi không bao giờ đi xem phim. Tôi hoàn toàn mù tịt về những gì đang xẩy ra xung quanh. Bởi thế, những qui tắc ấy chỉ xảy ra như là một phản ứng đối với những phim của chính tôi. Nó là cách để tôi tự xử trong khi đối mặt với những thử thách. Nghe có vẻ kiêu căng nhưng nó đúng là thế. Nếu bạn là kẻ tung bóng trong rạp xiếc, lúc mới đầu chỉ với ba quả, rồi sau vài năm với cặp đôi, thì bạn bắt đầu nghĩ “Ừm, sẽ hay ho nếu ta đi trên dây bây giờ…”. Đấy chỉ là một ví dụ nhỏ cho kiểu tình huống này. Tôi đã mô tả hóa những qui tắc đó, những kinh nghiệm mới không có mặt, và nó chân xác với những gì đã xẩy ra.

Dogme 95 là một chuỗi những qui tắc nghiêm ngặt được đề ra trong mùa xuân năm 1995 bởi một nhóm đạo diễn Đan Mạch (gồm cả Lars Von Trier và Thomas Vinterberg). Họ đã ‘thề” rằng chỉ dùng những qui tắc này trong những phim tiếp theo của họ:

1. Phim phải lấy (dùng) một nơi chốn duy nhất dựa vào địa điểm có thực, không dùng địa điểm đã chỉnh sửa (kể cả cảnh có tính nghệ thuật). Phải dùng những gì trên thực địa khi tìm thấy được.

2. Phải dùng âm thanh trực tiếp. Chỉ có thể dùng một loại nhạc, hoặc là đầu đĩa CD, băng, đài hoặc biểu diễn trực tiếp ngay trong cảnh phim.

3. Máy quay phải luôn cầm tay, kể cả khi quay.

4. Phải là phim màu, không cho phép dùng ánh sáng để tạo tính kịch nghệ. Phải có ánh sáng chủ duy nhất để rọi mọi thứ một cách hợp thức.

5. Không được phép dùng bất cứ loại hiệu ứng đặc biệt nào.

6. Không một kiểu diễn xuất nghệ thuật nào (tội phạm, kẻ cắp…) được giới thiệu.

7. Không một lôi kéo nào về thời gian và địa điểm được cho phép.

8. Thể loại phim không phải theo.

9. Đạo diễn không nhất thiết phải là một uy tín.

 


[1] Với “Time’, Von Trier hàm ý kho phim. Nó không thể hình dung được – gần như là kĩ thuật – đặt một cuộn phim 35mm dùng cho một giờ chỉ để tạo ra cảnh một phút khi kết thúc. Chi phí riêng có thể rất lớn.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s