… và hoa hồng


            Trong Một cuộc gặp gỡ (Nguyên Ngọc dịch, Nxb Văn học & Nhã Nam, 2013), Milan Kundera tỏ ra mình là người biết rất nhiều chuyện, nhiều tiểu tiết mang tính chất “nôm na lằng nhằng” trong đời sống văn chương nghệ thuật. Bởi ông chuyên dùng ngôi kể thứ nhất, tôi có cảm tưởng ông đã dính vào tất cả những câu chuyện thế tục, đẩy chúng đến tình thế làm nền cho sự suy tưởng, và với sự tỉnh táo, dí dỏm ngấm ngầm, ông ngoặt rẽ sang những bàn luận chốc lát về nghĩa lí của nghệ thuật, về vị trí của những nghệ sĩ mà ông hằng quan tâm rọi xét. Tôi không thấy những rắc rối, cầu kì, phức tạp trong cái viết này của Milan Kundera. Ngược lại, tôi thấy nó khá gần gũi với môi trường viết/đọc Việt Nam, nơi người ta rất háo những chuyện kể hay ho, những chuyện thế tục có thể trỗi lên bất cứ lúc nào trong kí ức người viết, nhưng lại chưa được hiển hiện ra một cách lịch lãm, sang trọng và được đối xử bằng thái độ tử tế như Milan Kundera đã làm. Một vài nhà phê bình trẻ ở VN hiện nay, nói trộm vía, không thực sự là những người giỏi kể chuyện, càng không phải là những người có thể đưa ra bằng cứ rằng bản thân đã chìm đắm trong một tương tác nghệ thuật đa dạng. Những gì tôi đọc được từ văn bản phê bình của họ là sực nức khái niệm/lí thuyết, và hình như, để không bị bốc hơi quá nhanh, họ chằng chịt vào đó rất nhiều ưu tư, nhiều câu cú của một The Thinker mang dáng dấp cúi gằm xuống cuộc đời và chúng sinh. Tuyệt nhiên họ không cười, không có khả năng gây cười. Cứ như cười, sự hài hước là một biểu hiện trá hình của hời hợt, bình dân, chẳng đáng gọi là mất công hay phải dùng đến thủ pháp. Nhưng hỡi ôi, cái mà họ tỏ thăm thẳm suy tư ấy, đôi khi phải cười thật to mới hiểu được.

            Milan Kundera kể, vào lúc ba mươi lăm tuổi, ông dịch thơ Apollinaire ra tiếng Tiệp và phát hiện ra một tuyên ngôn nhỏ, viết vào năm 1913, của nhà thơ này về việc ban phát “phân” và “hoa hồng” cho những ai: Phân cho Dante, Shakespeare, Tolstoi, và cả Poe, Whitman, Baudelaire; hoa hồng cho chính ông, Picasso và Stravinsky (tr.60). Tinh thần của công việc hoàn toàn cá nhân này có lẽ là Apollinaire muốn rạch ròi yêu/ghét đối với các tác phẩm mà ông biết. Chuyện thường tình ấy cũng chẳng quá quắt gì vì đã làm cái thằng người thì ai mà chẳng yêu/ghét, và vì dù hoa hồng hay phân thì chúng đều có mùi! Dĩ nhiên, mỗi nơi mỗi khác, mỗi người một ý. Năm 1946, vẫn theo Milan Kundera, Theodor W. Adorno lại trao cho Stravinsky một cục phân. Vậy là, bởi con lắc đơn yêu/ghét không hề cố định và thuộc về đặc quyền lựa chọn của riêng ai, nên trong danh sách “phân/hoa hồng” mà đương thời hay hậu thế lập nên, nhà văn/nghệ sĩ nào cũng sẽ có cơ hội được ngập ngụa đan xen hai mùi riêng biệt ấy.

            Đời sống văn chương nghệ thuật ở Việt Nam lại có vẻ như đi theo một diễn biến khác: nếu “gã mục đồng Paris” tự trao hoa hồng cho mình, thì không hiếm trường hợp văn nghệ sĩ VN phải tự trao phân cho mình. Không ai lạ gì một giai đoạn các nhà văn “phê và tự phê” bản thân hết sức riết róng, cứ như muốn giành bằng được những ngôn từ xúc xiểm, thô tục nhất cho chính bản thân. Gần như không một nhà văn nào thành danh trước 1945, nếu tiếp tục ở lại miền Bắc tham gia kháng chiến kiến quốc, mà thoát khỏi những tình cảnh tự bôi gio trát trấu vào mặt, trước hết là bằng cách tự gạch tên các đứa con tinh thần chào đời vào “đêm trước bình minh”. Có người làm ngay từ những ngày đầu độc lập, có người làm lai rai trong suốt nhiều năm sau. Có người làm một lần là dứt điểm. Có người làm nhiều lần cho chắc ăn. Trường hợp này phải kể đến Hoài Thanh với các “biện pháp mạnh” thường xuyên dành cho sản phẩm nức tiếng nhất của ông, Thi nhân Việt Nam. Trong khi tự ném phân vào mình, họ rút hoa hồng dành tặng người khác. Đã quá muộn để độc giả hôm nay oán trách họ điều gì, để đòi hỏi họ có một sự bình tĩnh trong bối cảnh không thể an tâm lâu dài với diễn biến xung quanh. Dù thế nào, họ vẫn là những nhà văn có tài. Hoa hồng sẽ vẫn được trao lại cho họ, khi thời gian làm trôi đi lớp váng nặng mùi.

            Vào buổi đầu nhốn nháo “ném” và “rút” đó, trường hợp thơ không vần của Nguyễn Đình Thi thật xứng đáng đau lòng. Lưu Trọng Lư, thi sĩ bẩm sinh mơ màng ấy, trong một phút tỉnh táo không biết từ đâu, đã đòi “đuổi thơ Nguyễn Đình Thi ra khỏi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Sự kiện này hẳn có liên quan đến chuỗi những lớp chỉnh huấn dành cho văn nghệ sĩ giai đoạn 1946-1953. Phan An Sa, trong cuốn tiểu sử-kí sự về Phan Khôi, Nắng được thì cứ nắng, đã mô tả các lớp học này tương đối cụ thể. Chẳng hạn, đây là lớp chỉnh huấn ở Trung tâm Huấn luyện Chính trị (tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang) mà Phan Khôi, dù sức khỏe yếu, vẫn tự nguyện tham gia, tổ chức vào giữa năm 1953:

– Toàn khóa có 5 bài giảng: Mở đầu: quán triệt về thái độ, tác phong học tập của học viên; + Ba bài chính: Lịch sử cách mạng VN; Tình hình mới nhiệm vụ mới; Tác phong công tác của cán bộ, đảng viên; + Bài chốt: Cải cách ruộng đất.

– Lịch học chia làm bốn đợt; sau đợt một thì viết Tự thuật tiểu sử sơ lược; sau đợt ba thì viết Kiểm thảo sơ bộ và sau đợt thứ tư thì viết Tự kiểm thảo.

– Biểu ngữ căng ở lớp: Thành khẩn khiêm tốn; Thân ái đoàn kết; Đào sâu suy nghĩ.

            Sau khi vượt qua vòng Kiểm thảo sơ bộ rất căng thẳng, Phan Khôi đã mở đầu bản Tự kiểm thảo như sau:

            “Tôi, từ nhỏ cho đến năm ba mươi tuổi, là người của chế độ phong kiến; ngoài ba mươi tuổi cho đến sáu mươi tuổi, là người tiểu tư sản của chế độ tư bản thực dân; cái năm sáu mươi tuổi ấy cho đến ngày nay, vụt một cái, làm một công dân của nước dân chủ cộng hòa dưới lá cờ tân dân chủ nghĩa dự bị đi lên chủ nghĩa xã hội. Một đời người trải qua ba cái chế độ như thế, tư tưởng tất nhiên lộn xộn lắm. Nhờ lớp chỉnh huấn này, tôi tưởng tư tưởng của tôi, cái đã cải tạo rồi càng vững chắc thêm, cái chưa cải tạo sẽ được cải tạo”. (tr.408)

            Cuối bản Tự kiểm thảo ấy, Phan Khôi đưa ra phương pháp sửa chữa: “Ở lớp học này ra, tôi chỉ có tùy mỗi lúc mỗi việc mà kiểm điểm lại mình, thành thật tự phê bình, đả phá cái tự do chủ nghĩa đóng căn cứ trong đầu tôi ba chục năm nay, tiêu diệt mấy cái chủ nghĩa con cháu của nó, để chỉ tin tưởng độc một chủ nghĩa xã hội khoa học, lo học tập nó cho biết thêm ra, để mà phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc mà thôi” (tr.420). Ở văn bản thì vậy, nhưng Phan Khôi, như Phan An Sa nhận xét, “không đến mức rũ bỏ, cũng không đoạn tuyệt với những gì ông viết ra ba mươi năm trước” (tr.422) như nhiều người khác. Tôi thì nhìn thấy trong những dòng viết trên của Phan Khôi có nụ cười tinh anh. Ông cũng tỏ ra rất chân thật trong kiểu tính cách nhà nho hiếu sự. Cách ông đối mặt với không khí “góp ý và nhận xét sôi nổi khác thường” của xung quanh là không “ném” hay “rút” gì cả. Điều này đáng để học tập.

            Làm văn nghệ, có lẽ, nên chọn kiểu Bùi Giáng, là “vui thôi mà”. Vui thôi. Nhọc công nhặt lấy hoa hồng làm chi!

One response to “… và hoa hồng

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s