BÓNG HÌNH ĐỂ LẠI


“Ở thời điểm hiện tại, đã và sẽ có nhiều người coi việc đọc những suy tư cách đây cả trăm năm là sa đà hoài cổ. Quĩ thời gian để mỗi cá nhân chần chừ trước những tiếng gọi của quá khứ dường như không còn nhiều. Nhưng khi kim thời chưa thuyết phục được số đông về độ sâu sắc của những phát ngôn thì người ta vẫn có quyền ẩn mình trong các bóng hình để lại. Bởi từ và trong không gian cư trú ấy, những chi tiết sáng giá của tiền nhân có thể vun đắp niềm vui sống, lòng an chú về lẽ phải đương nhiên cho chính hiện tại”

   1. Năm 2013 trở nên không bình thường với quá khứ, nhất là quá khứ văn hóa văn chương, khi, trong nhiều thời điểm bình lặng nhất ở văn đàn đương thời, đã xuất hiện cùng lúc những tiếng nói từ vốn cổ người xưa mà, ngạc nhiên thay, phải cần đến chúng thì mới phần nào khỏa lấp đi cảm giác trống vắng những dấu ấn thực sự của hiện tại. Bốn trong số nhiều người “khổng lồ” của thời đại trước, xấp xỉ một trăm năm trước, bằng cách thức khác nhau, đã hiện hữu trở lại, tươi tắn, lạ lẫm và rất mực sinh động, như chưa bao giờ cũ: Phan Khôi, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Tửu. Thời gian đã mất, cho dù bất khả phục hồi nên gây nhiều tiếc nuối, vẫn khiến người ta thấy nó đáng giá ở khả năng cắt nghĩa những thứ có thể vượt qua hữu hạn, sự ngăn trở và thói thường lãng quên của cuộc đời. Bởi thế, điều làm cho bốn cái tên trên không phải ngẫu nhiên được chú ý, là ở chỗ: họ chưa mất đi, thậm chí, trong nhiều góc nhìn, vẫn còn vẹn nguyên những điều xứng đáng vỡ lẽ trong thức nhận hôm nay. Và, trước không ít “những trò lố” chữ nghĩa đã nhếch nhác phổ biến bởi kẻ hậu thế, rất nhiều người buộc tự thân tìm lại cảo thơm, nơi cho thấy những viễn kiến nhìn xa thấy rộng, tấc lòng ưu thời mẫn thế, tinh thần hiếu tri và văn cách đàng hoàng, để tâm thế khỏi nhọc công mỏi mệt buồn phiền. Dĩ nhiên, mọi sự trở lại đều không dễ dàng nhưng riêng với bốn nhân vật trên, có lẽ, còn phải đi kèm với những cân nhắc kĩ lưỡng, những tính toán chu toàn để kịp hoàn thành các lộ trình phục dựng: Phan Khôi (1887-1959), đã có thể minh bạch hóa ở sự nghiệp báo chí với hai tuyển tập Tác phẩm đăng báo 1933-1934Tác phẩm đăng báo 1935 (Nxb Tri Thức, quí III/2013), và một tiểu sử-kí sự rất công phu về hai mươi năm cuối đời: Nắng được thì cứ nắng – Phan Khôi: từ Sông Hương đến Nhân văn (Nxb Tri Thức, quí I/2013); Phạm Quỳnh (1893-1945) phần nào viên mãn bởi Tuyển tập Du (Nxb Tri Thức, quí II/2013), hợp cùng với các trước tác của ông đã xuất bản trước đó để sự nghiệp tác gia Phạm Quỳnh hiển thị đầy đủ; Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), muộn mằn hơn cả, khi mới khởi đầu tập 1 (trong dự kiến 15 tập bộ sách Lời người Man di hiện đại) mang tên Phong tục và thiết chế của người An-nam (Nxb Tri Thức, quí III/2013), khiến câu hỏi đặt làm tiêu đề cho tập sách viết về ông Nguyễn Văn Vĩnh là ai? (Nxb Tri Thức, quí III/2013) vẫn còn nhiều thảng thốt đến đau lòng; Trương Tửu (1913-1999), khép lại một cách rạch ròi với Tuyển tập nghiên cứu văn hóa (Nxb Văn học, quí IV/2013). Như vậy, về mặt trước tác, những thiếu hụt đã dần được bổ khuyết, những phong thanh đã có sở cứ, những rời rạc đã thành qui củ hệ thống. Trước khi đọc những cảo thơm chắc hẳn phải tốn thời gian này, chúng ta rất nên dành lời cảm ơn với những người bỏ công sưu tầm, biên soạn chúng vì qua bàn tay thư tịch hóa/văn bản học của họ, việc ôn cố thuận tiện hơn rất nhiều.

            Bốn nhân vật trên, ở thời điểm họ bắt đầu có thân danh trong xã hội, thì những biến động lịch sử, những dịch chuyển đời sống đã diễn tiến mau lẹ hằng ngày, đã ghê gớm đặt ra quá nhiều vấn đề gay cấn và gai góc buộc mỗi cá nhân có chút tri kiến phải giải đáp, phải chịu những va đập không thể riết róng hơn đến từ chữ “thời”. Cho nên, trong lúc tận lực đặt mình vào tâm điểm xung động của nhiều tiếng nói lúc bấy giờ, họ, nếu không trở thành trung tâm gắn kết các hạt nhân có chung ý tưởng, hoặc đứng hẳn như một thủ lĩnh nhóm/phái, thì cũng tự mình cất tiếng can dự vào các hoạt động thời cuộc với tất cả khả năng và trách nhiệm vốn có.  Nếu Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, hai yếu nhân Bắc Kỳ, có chung quá khứ học hành ở trường thông ngôn, và được xếp vào – theo nghiên cứu của GS Trịnh Văn Thảo, thế hệ 1907, thì Phan Khôi, một ông Tú đất Quảng, và Trương Tửu, “đối tượng ưu việt trong số các nhà văn cộng sản”, lại được xếp vào thế hệ 1925. Khoảng cách thời gian giữa hai thế hệ này tuy không quá lớn nhưng lại có tác động không nhỏ trong việc tạo nên sự tương đồng và dị biệt trong xu hướng vận hành các đường lối hành động và biểu đạt chủ kiến, mục đích của họ. Chẳng hạn, ta thấy Nguyễn Văn Vĩnh, ngay từ những thập niên 1910s, đã nổi bật ở vị trí truyền bá, thực tiễn hóa sự phát triển chữ Quốc ngữ thông qua những hoạt động kiên tâm và sâu rộng ở báo chí, dịch thuật, giáo dục. Phạm Quỳnh, ở giai đoạn song song và chuyển tiếp liền kề, cũng nỗ lực đem đến khí quyển học phong và kiến văn cho sự trưởng thành vững chắc của một thế hệ đang nhập cuộc vào nền tân học. Phan Khôi, cho đến lúc ấy, đã bắt đầu dấn thân cuộc đời làm báo và nhanh chóng gây uy tín bằng sự xông xáo, thẳng thắn, tinh tường và hiệu quả ở những khúc ngoặt quan trọng của báo chí văn chương cuối thập niên 1920s. Trương Tửu, với lợi thế của người sinh sau đẻ muộn, sẽ có cơ hội tiếp cận, ứng dụng tinh thần khoa học khách quan, thứ chỉ nảy sinh khi nền tân học đã bắt rễ sâu, và đang rất cần kíp cho văn đàn những năm 1930s. Ở đây, khi vắn tắt một đôi nét về hành trạng của họ, ta có thể hình dung rõ nhu cầu canh tân đất nước là đau đáu từng giây từng giờ nhưng không thể dứt điểm một lần cho tất cả, càng không thể thỏa mãn cho mọi đòi hỏi về tựu thành. Cùng với họ, rất quyết liệt và nhọc công, cho dù dở dang, nhiều trí thức khác cũng góp phần tạo nên lực đẩy cần thiết để xã hội Việt Nam tiến từng bước vào tính chất hiện đại. Canh tân, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện bị thực dân hóa, rõ ràng sẽ vấp phải nhiều ngáng trở, đối lập và không dễ được xem xét thấu đáo ở những diễn ngôn lịch sử ưa sự kịch tính hóa cách mạng giải phóng dân tộc. Giờ đây nhìn lại, trước áp lực truy cầu các nội lực đủ mạnh để hội nhập quốc tế, cự li với quá khứ hẳn đã tiệm cận hơn đến trung thực, công bằng.

            2. Phần lớn các trước tác nêu trên đều ra đời trong giai đoạn đầu thế kỉ XX, lúc cuộc tiếp xúc của Việt Nam với thực dân Pháp không đơn thuần diễn ra trên bình diện địa-chính trị. Giáo dục, văn hóa văn chương, tư tưởng đều là những lĩnh vực dễ bị điều chỉnh và tái cấu trúc, ngay cả khi bản thân chúng đều có những phản ứng và tự vệ nhất định, mà một trong những hệ quả tất yếu của nó là xuất hiện kiểu trí thức dân tộc-bản địa mới. Sản phẩm tinh thần của tầng lớp này minh chứng cho tính chất cộng sinh hai cơ địa văn hóa: truyền thống-hiện đại, Việt-Pháp, phương Đông-phương Tây. Cả Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Trương Tửu, ngoài vốn liếng văn hóa bản địa, đều kịp tiếp thu nền học vấn mới, dù ở mức độ khác nhau, và từ đó, khuếch tán những hiểu biết mới đến quảng đại quần chúng như hành động tất yếu của một trí thức độc lập. Lấy sách vở báo chí làm diễn đàn cho những điều mình tâm đắc, họ đã di chuyển sang không gian xã hội dân sự mang tính học thuật, nơi họ có cơ hội “khai dân trí, chấn dân khí” sau khi chứng kiến sự thất bại không thể cứu vãn của phần lớn các hoạt động tư tưởng, tinh thần kiểu cũ được gây dựng bởi tầng lớp nhà nho chí sĩ. Chỉ với ngòi bút sắt, các trí thức bản địa ít ra cũng đã dành lại những thế/lực nhất định trước tình thế thực dân hóa văn hóa đang đi cùng súng ống áp đảo. Chỉ với sự cởi mở, dân chủ ít ỏi mà chính quyền cai trị đôi khi nới lỏng, họ cũng tìm đến khả năng đối thoại, tranh biện nhưng không bị đặt vào lép vế. Động thái này khiến tôi hình dung họ không chỉ là kẻ môi giới văn hóa, danh xưng có phần dè bỉu từ cửa miệng thực dân, mà còn là những người đối thoại văn hóa, một phẩm chất thuộc về . Ta có thể thấy điều này trong Phong tục và thiết chế của người An-nam. Chủ ý viết bằng tiếng Pháp và đăng trên L’Annam Nouveau, tờ báo do chính mình tạo dựng, Nguyễn Văn Vĩnh dường như muốn cung cấp đầy đủ, chi tiết hơn, mà không phải là chế giễu hay miệt thị, những phong tục/thiết chế làng An-nam. Lối mô tả thiên về dẫn dắt, gợi mở, phân tích những nét riêng của làng xã, để vừa phô sự hấp dẫn đặc trưng vừa coi đó là căn tính văn hóa không thể bài bác, đã khiến loạt bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh đến gần hơn với cái nhìn, thao tác của nhà dân tộc học. Không phải ngẫu nhiên mà Pierre Gourou, tác giả của công trình Người nông dân châu thổ Bắc kỳ (1936) danh tiếng, đã đôi lần viện đến phác thảo của Nguyễn Văn Vĩnh. So với nhà nho Ngô Tất Tố trong phóng sự-tiểu thuyết Việc làng (1937), vị “tân nam tử” Nguyễn Văn Vĩnh đã không quá vội vàng lấy văn hóa mới để phê phán triệt để làng xã, tương tự thái độ của Phạm Quỳnh khi viết tiểu luận Người nông dân Bắc Kỳ qua tiếng nói bình dân hay những du kí về quê hương xứ sở. Ở một kênh truyền dẫn khác, Trương Tửu tỏ ra nồng nhiệt với các tri thức khoa học mới, thứ mà ông đã chắt lọc từ sách vở phương Tây, nhằm khẳng định “nhu cầu cải biến hiện trạng xã hội để đi tới một hình thức sống tốt đẹp hơn, hợp lí hơn, nhân đạo hơn”. Tinh thần hiếu tri của Trương Tửu trong Nhân loại tiến hóa sử (1943) đẩy ông đến vai trò nhà bách khoa, năng nổ công việc “giải phóng tinh thần” để “biết sống và chiến đấu thích hợp với trào lưu đi tới của loài người”. Trước những giới hạn về thông tin khoa học xã hội, trang viết của Trương Tửu không đến mức là thứ xa xỉ phẩm nếu chiểu vào nhu cầu, lộ trình cấp tiến của tầng lớp thực học lúc ấy. Ngay đến một người có vốn Hán học sâu rộng như Phan Khôi, trong nhiều bài báo năm 1935 trên Tràng An, cũng dành hẳn lời lẽ thẳng thắn đề cập những bất cập, yếu kém của chế độ quân chủ; cũng không thoái lui thúc giục sự cải cách, đổi mới mà ông đã vạch ra từ khá sớm.

            3. Ở thời điểm hiện tại, đã và sẽ có nhiều người coi việc đọc những suy tư cách đây cả trăm là sa đà hoài cổ. Quĩ thời gian để mỗi cá nhân chần chừ trước những tiếng gọi của quá khứ dường như không còn nhiều. Nhưng khi kim thời chưa thuyết phục được số đông về độ sâu sắc của những phát ngôn thì người ta vẫn có quyền ẩn mình trong các bóng hình để lại. Bởi từ và trong không gian cư trú ấy, những chi tiết sáng giá của tiền nhân có thể vun đắp niềm vui sống, lòng an chú về lẽ phải đương nhiên cho chính hiện tại. Do đó, sự trở lại của Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Trương Tửu, ngoài cảm giác ấm lòng, còn gây cho tôi niềm tin vào tương lai gần sẽ tái xuất hiện những gương mặt khác, bóng hình khác, cũng đặc biệt không kém, nhưng chưa được hậu thế đối đãi tương xứng.

(Sau đúng 2 tháng biến mất, M.A.T lại xuất hiện bóng hình!!!)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s