Chuyến đi nào không tầm tã nhớ thương?


            Quãng năm 1792, John Barrow, một thanh niên người Anh, vốn từng là giáo viên dạy toán trường tư, bấy giờ mới chừng 28 tuổi, trong chuyến du hành của phái đoàn đại sứ Macartney mà anh được đi kèm chỉ với tư cách quản gia, đã có dịp ghé thăm một vài nơi ở xứ Nam Hà, tên gọi khác của Đàng Trong mà chính sử nước ta thường dụng đến. Chuyến thăm ngắn ngủi nhưng không làm Barrow lãng quên và với bản tính thông minh, ưa phân tích như thường thấy ở những người tận tụy phiêu lưu, anh đã dựng lại nó, một cách sắc sảo và hấp dẫn, trong cuốn du kí được xuất bản tại cố quận mười ba năm sau.

Cũng ở độ tuổi đôi mươi ấy, xưa xa hơn nữa, một người Ý có tên Marco Polo, đã có những trải nghiệm đầu tiên trên mảnh đất Giao Chỉ, chút thoáng thôi, nhưng về sau sẽ vẫn được nhắc lại trong hồi ức cuộc đời vạn dặm trứ danh của mình. Tôi thì qua tuổi trẻ đầu xanh mà chẳng đi đâu ngoài quê nhà bé nhỏ. Nhưng chính nơi đồng ruộng bùn nâu mà tôi tưởng mình như loài giun đất đã gặm nhấm kĩ càng từng mẩu vụn ẩm mục ngọn cỏ lá cây, từng thớ mây sắc nắng bụi đường ấy, tôi vẫn không tài nào hình dung hết sự rộng rãi và phức tạp của nó. Và cho dù cũng không nghi kị gì về cái gọi là du kí bốn phương của người trẻ Việt hôm nay, tôi vẫn bướng bỉnh cố thủ tin rằng, có thể mãn hạn quẩn quanh xó bếp, tôi chưa thôi ngỡ ngàng trước những chữ nghĩa tuyệt đẹp và tinh tường của vô số “kẻ xa lạ” dành cho xứ tôi đang ở. Ấy nên, không chỉ J. Barrow mà còn những J. Tevernier, W. Dampier, thậm chí là một viên thu thuế nhạt nhòa tiểu sử có tên Claude Bourrin, đôi khi, cứ như một người bạn phương xa ân tình gửi cho tôi những tấm bưu thiếp cũ, trên đó, loáng thoáng mùi vị dừa, ổi, đu đủ; mùi trầm hương thanh khiết trong những căn nhà tranh kín đáo và sạch sẽ; mùi lúa gạo chưng cất trong thứ rượu thôn dã cay nồng; và đặc biệt thường xuyên những đỏng đảnh của thời tiết, vừa khoáng đạt, dữ dội vừa ấm áp, hiền lành. Sự ảo diệu của sắc màu nhiệt đới tôi tưởng đã hết biến hóa trên tấm voan bốn mùa, bỗng nhiên, bằng nét vẽ tỉ mỉ của một lữ khách Ý, được hòa hợp lạ lùng từ màu chàm và màu cô-ban trong ánh chiều giăng mắc trên vùng đầm lầy rộng lớn phất phơ lau sậy. Rất nhiều khi tôi lần tìm lại dáng hình châu thổ, như trước đó, Pierre Gourou đã say sưa phác họa nó, từ chiếc thắt lưng áo màu xanh, màu ngọc trai của mặt nước phủ mưa phùn sáng đục, đến màu xanh chân chất của lũy tre, màu vàng óng ánh của lúa chín… Tôi tự thấy mình đang đứng trong đám trẻ con lít nhít, lấm lem, ngồi vêu mặt bên rìa đường nhưng không bị nhà dân tộc học người Pháp này buông lời chế nhạo. Thảng hoặc ở những ghi chép về triền đê, xen giữa đợt gió nồm từ cửa biển, là một vài bức ảnh mô tả thuyền bè, chợ búa, hay một nhóm người tụ tập chuyện trò khiến tâm trí tôi như được nhúng vào quá khứ của tổ tiên ông bà. Tôi cố ngắm nhìn họ, vóc dáng nhỏ, săn chắc, trán thấp, khuôn mặt phẳng, tóc búi cao, hàm răng đen, móng tay dài, đầu vấn khăn, cởi trần đóng khố… Tôi phỏng đoán, mấy chục đời trước, ông bà tôi đều như thế, và sẽ không quá dị thường khi đặt tấm hình này giữa mớ thanh âm pha tạp của buổi chợ trưa oi nồng hôm nay. Tổ tiên tôi chẳng có di ảnh hay câu chuyện nào, đa số đều vô danh tan rữa dưới cánh đồng chằng chịt khói rạ. Nhưng bởi được một loạt những “ông đồ Tây” đương sống, từ Philippe Papin, Oliver Tessier hay John Kleinen kể lại, tôi đã có thể mang máng quãng đời quá khứ tông tộc mình, nói chung, là nhẫn nại chịu đựng, bền bỉ cóp nhặt để căn cơ, lầm lụi gìn dựng mái nhà bình an. Có lẽ vì thế mà ngay cả con mương bao quanh làng, cái cày cái cuốc, quang gánh, vại nước, đôi đũa mâm cơm cũng mang theo tính cách họ. Hòa vào thiên nhiên, họ cho tôi cảm giác họ vẫn tồn tại hằng ngày, chỉ cần tôi chạm nhẹ hương khói ngày hội thầm thì trong những viên gạch thô mộc trên bức tường điếm canh chơ vơ đầu làng.

            Như các nhà du hành ấy kiên trì nhắc nhở, rằng, đồng ruộng đã ngấm vào máu người Việt, nên tôi không bao giờ quê bản mệnh thuần nông của mình. Tôi chưa đi hết làng quê mình dù chỉ từ thềm nhà ra đầu ngõ, chưa đủ bình tâm để rút đôi chân mình ra khỏi mảnh vườn tươi xốp sau trận mưa rào. Chưa đi hết nghĩa là chưa hiểu mình. Làm sao có thể quẳng thân ở nơi nào đó nếu ta không hề có ý niệm gì, dù khuyết thiếu, về căn cước cội rễ của mình?  Ở buổi giao thời Đông – Tây thế kỉ trước, hẳn được kích thích từ phong thái trí thức dấn thân, nên rất nhiều “tân nam tử” Việt đã bỏ tâm sức du thám làng quê và với vốn tiếng Pháp nhuần nhuyễn, họ bắt đầu cất tiếng bản địa như một thao tác bàn góp cách hiểu Việt Nam, một mong muốn đối thoại văn hóa giữa bối cảnh không thật thuận lợi cho kẻ lép vế xuất hiện. Những trang viết của họ, cho đến giờ, vẫn có sự quyến rũ đến ngạc nhiên, khiến tôi xấu hổ rụng rời khi muốn buông lời ta thán về sự chật hẹp, già nua, nhếch nhác của cố hương mình. Có thể tôi sẽ đi rất xa để được về gần, để lẫn trong tiếng kẹt cửa mà người lữ khách vừa mở, để làm nan tre trên tấm liếp hiên nhà. Vì tôi biết rằng, ngôi làng cổ xưa của tôi, trong những chặng thời gian gối tiếp, bất chấp mọi rào cản địa lí, đã là nơi đến của nhiều kẻ du hành. Họ đã cho tôi, nếu không nhiều nhất, thì thú vị nhất, những cơ hội để hiểu sâu mình. Tôi cũng sẽ đặt ở bậc cửa cuốn du kí mới của bạn tôi, người vừa mon men dạo khắp ngõ ngách trời Tây và nhất định kiêu hãnh gọi mình là văn sĩ. Tôi vẫn chúc bạn mình khỏe chân lang bạt, còn viết lách như thế khác nào thứ tour-guide trá hình.

            Năm 28 tuổi, Tản Đà nổi tiếng giang hồ cho in Giấc mộng con, tựa như du kí, kể chuyến phiêu lưu khắp Âu Mĩ mà ông tự tưởng tượng nên. Chẳng ai căn vặn về sự thật của chuyến đi ấy. Người ta còn thầm cảm phục vì óc mơ mộng của thi sĩ. Dù sao, Tản Đà vẫn thấu thị nhất nước non quê nhà. Các không gian xứ lạ mà ông dựng nên, với lòng thành thật đáng khâm phục, chỉ như một sự bù đắp cảm giác khác biệt mà núi Tản sông Đà chưa bao giờ mang lại cho ông. Ở độ tuổi ấy, Claude Lévi -Strauss, giáo viên dạy triết bậc trung học Pháp, thì háo hức theo đuổi những nghiên cứu dân tộc học ở vùng Mato Grosso, vùng Amazone, cách quê nhà những ngàn cây số. Trải nghiệm sâu sắc này, về sau, là chất liệu dựng nên danh tác Nhiệt đới buồn, viết năm 1955. Giữa hai chi tiết có vẻ chẳng liên quan này, tôi ngờ ngợ nhận ra, rằng, hình như trong mọi chuyến đi, dù nhỏ bé cỏn con hay đường xa vạn nẻo, nhu cầu hiểu mình và hiểu kẻ khác là nỗi niềm có thật và sẽ ám ảnh ta mãi cho đến khi, bằng cách nào đó, chúng được hiện hữu rõ ràng. Khi phơi mình trên xứ lạ, phản ứng nhất thời có thể chỉ là trầm trồ ngạc nhiên trước điều mắt thấy tai nghe. Nhưng cần thiết và nhọc công hơn, là có được cấy mình ở nơi đó, nơi kẻ khác đang cần được thấu hiểu. Chừng nào mình và kẻ khác trở nên chấp nhận nhau bởi những dị biệt, chuyến du hành sẽ tạm ngừng như người nghệ sĩ vừa dứt phím cuối cùng. Nhưng âm vang của nó thì không tắt, không bị méo mó bởi nông nổi, nhầm lẫn và thiên kiến. Có những cuộc rong chơi có thể chẳng cần lên tiếng vì sinh ra là đi, là mặc nhiên thấy mình như kẻ khác. Cuộc du thám miệt mài và khó khăn nhất đôi lúc lại diễn ra trong chính tâm hồn mình.

             Ở tuổi 28, Trần Dần giã từ bản nhỏ ở Việt Bắc heo hút mờ sương, đèo cao xó núi. Từ ấy, ông chẳng đi đâu ngoài thăm thẳm chữ nghĩa của riêng ông. Tôi, tôi 28 tuổi, tôi chỉ mới đi từ nhà ra đầu ngõ, đi qua cây cầu gỗ có mái che trên đoạn sông phẳng lặng, ngăn làng tôi với chộn rộn bên ngoài. Tôi đứng bên này bờ sông đã thấy lòng mình xa tít tắp. Chuyến đi nào không tầm tã nhớ thương ?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s