TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC: Một tiểu sử


                Nói là một tiểu sử nhưng chắc chắn chưa thể đầy đủ. Tôi cũng có tham khảo nhiều tài liệu, đặc biệt trong đó có tạp chí Văn số đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền (S., 11/1973), nơi có đăng tiểu sử ông, nhưng thông tin chỉ khái lược. Có lẽ vì vậy mà về sau, nhiều bài viết, nhiều tư liệu cũng không thật sự bổ sung được nhiều rõ ràng. Tình trạng nhảy cóc, bỏ trống trong khi viết về tiểu sử một tác gia văn chương ở VN đã không quá hiếm. TTT từng và có lẽ, sẽ càng bị như vậy.

                Từ nhiều dữ liệu,chúng tôi dựng lại tiểu sử – con đường văn chương Thanh Tâm Tuyền, tập trung chủ yếu ở phạm vi trong nước, một cách sơ thảo như dưới đây. Rất mong những độc giả nào biết thêm thì chỉ giáo giúp. Công việc đọc quá khứ đôi khi bắt đầu từ việc rất nhỏ.

 ***

 Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1936 tại Nghệ An, mất ngày 22 tháng 3 năm 2006 tại Minnesota (Hoa Kỳ). Lên năm tuổi, cậu bé Tâm đã mồ côi cha, cùng với người em trai kém một tuổi (Dzư Văn Chất) theo mẹ vào Sài Gòn, mưu sinh bằng việc phụ giúp người cô làm nghề đan áo len. Tâm học tiểu học ở đây, năm 1949 ra Hà Nội, phải xin miễn tuổi để thi và đã đỗ ban toán kì thi Tú tài 1. Sau một thời gian dạy học ở Hà Đông, hoạt động trong Tổng Hội sinh viên Hà Nội và từng đăng truyện ngắn trên báo Thanh Niên lúc bấy giờ, thì đến 1954, khi Hiệp được Geneve được kí kết, ông di cư vào Nam, tiếp tục nghề dạy Quốc văn ở trường tư thục Nguyễn Trãi (Bình Dương), rồi nhanh chóng hợp sức cùng nhiều bạn văn có cùng gốc gác vùng miền là Doãn Quốc Sỹ (1923 – ), Nguyễn Sỹ Tế (1922 – 2005), Trần Thanh Hiệp (1928 – ) chủ trương nguyệt san Lửa Việt, một năm sau, cùng làm báo Dân chủ (của Vũ Ngọc Các) và tuần báo N gười Việt. Thời điểm ấy, ở miền Nam, dưới không khí Đệ nhất Cộng hòa, báo chí văn hóa văn nghệ cũng bắt đầu nở rộ. Trên Người Việt, nhất là các số từ nửa sau 1955, xuất hiện thêm các cây bút khác mà rồi đây họ sẽ tiếp tục gắn bó: Quách Thoại (1930 – 1957), Mai Thảo (1927 – 1998), và hai người đã thành danh thời tiền chiến là Trọng Lang (1906 – 1986) và Nguyễn Đức Quỳnh (1909 – 1974), tác giả của Thằng Kình mà Thanh Tâm Tuyền thừa nhận rằng, cùng với Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, “đó là tiểu thuyết quan trọng đối với tôi. Đó là quyển sách đã vỡ lòng, đã mở mắt, đã đưa tôi vào đời”. Người Việt chủ yếu đăng sáng tác, riêng Thanh Tâm Tuyền vừa đăng thơ (tự do) vừa đăng truyện ngắn, kí, kịch, tiểu luận (trong đó đáng chú ý là tiểu luận Đặt đúng vấn đề thơ tự do trên Người Việt [bộ mới] số 2) và dưới bút danh Cô Thu Tâm, ông dịch và công bố thơ của Lorca, Tristan, Tzara, Eluar, Whitman. Năm 1956, Mai Thảo chủ trương tạp chí Sáng Tạo, Thanh Tâm Tuyền trở thành ngòi bút thường xuyên từ số 1 tháng 10/1956 đến số 31 tháng 9/1959 và sau đó, khi tạp chí này tục bản, từ số 1 tháng 7/1960 đến số 7 tháng 9/1961 là thành viên của bộ biên tập [chữ dùng của chính nhóm này]. Cũng trong năm 1956, Thanh Tâm Tuyền cho in tập thơ Tôi không còn cô độc do Người Việt xuất bản, Sáng Tạo có bài giới thiệu ở số 3 tháng Chạp 1956. Năm sau, 1957, Thanh Tâm Tuyền in tiểu thuyết Bếp lửa (Nguyễn Đình Vượng xuất bản), từng được tuần báo Văn nghệ ở Hà Nội điểm tới. Tiếp đó, ngoài sáng tác thơ, văn xuôi và cộng tác với hai tạp chí cùng ra năm 1960 là Hiện đại (Nguyên Sa chủ trương), Thế kỉ hai mươi (Nguyễn Khắc Hoạch chủ trương), ông lần lượt đăng một số tiểu luận về nghệ thuật quan trọng: Nỗi buồn trong thơ hôm nay (tháng 9/1959), Nghệ thuật đen (tháng 9/1960) và tham gia các thảo luận xoay quanh câu hỏi Thế nào là nghệ thuật hôm nay? do Sáng Tạo tiến hành. Năm 1962, ông bị động viên vào quân đội Việt Nam cộng hòa, giải ngũ (1966) rồi tái ngũ (1968), trông coi phòng hát bóng, bảo tàng viện, tám năm quân ngũ chưa nổ một phát súng với địch như ông thú nhận. Các tác phẩm Thanh Tâm Tuyền lần lượt ra đời giai đoạn này gồm: tập thơ Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy (Sáng Tạo xuất bản, 1964); hai tập truyện Khuôn mặt (Văn xuất bản, 1964) và Dọc đường (Tân Văn xuất bản, 1966); các tiểu thuyết: Cát lầy (Giao Điểm xuất bản, 1967), Tiếng động (Hiện Đại xuất bản, 1970), Mù khơi (Kẻ Sĩ xuất bản, 1970) và Một chủ nhật khác (Khai Hóa xuất bản, 1975); kịch Ba chị em (1967) và một phiếm luận có tên Tạp ghi (Chiêu Dương xuất bản, 1970). Ngoài ra, có một tiểu thuyết đã được đăng nhiều kì nhưng chưa xuất bản là Ung thư. Tháng 10/1973, giai phẩm Văn, như đã từng làm với thi sĩ đương thời Bùi Giáng, ra số đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền mà nổi bật là các bài phê bình của Lê Huy Oanh, Nguyễn Quốc Trụ. Sau 1973, “trước cái hỗn độn mờ mịt”, Thanh Tâm Tuyền tự thấy “kể như mình đã sống hết đời mình, những ngày còn lại dư thừa không đáng bận tâm” và rơi vào “vô vọng hoàn toàn”. Từ tháng 6/1975, cũng như nhiều văn nghệ sĩ miền Nam, Thanh Tâm Tuyền bị bắt đi học tập, lao động cải tạo tại nhiều tỉnh ở miền Bắc, lúc cần để tâm trí bận rộn, ông “lục lại những gì nằm lòng, đọc cho riêng mình lắng nghe […] Anh có thể bắt gặp thứ ánh sáng lạ lùng của thời gian tích đọng trong thơ”. Tháng 1/1982, ông được tha và trở về Sài Gòn, việc làm đầu tiên là “ngồi ghi chép lại những bài thơ làm trong trại” nhưng “không còn muốn làm nhà văn nữa như từng tự nhủ trước kia”. Có lúc ông kiếm sống độ nhật bằng việc dịch truyện như đã từng dịch cuốn Mary của V. Nabokov (Tình một thuở, Nxb. Đồng Nai, 1989) dưới bút danh Từ Trí (ghép tên con trai út và con trai đầu) và hứng thú trước dịch thơ Đường với dụng ý theo tinh thần của E. Pound: mỗi thế hệ cần một bản dịch của mình. Tháng 4/1990, Thanh Tâm Tuyền qua Mỹ nhờ diện H.O, theo học điện toán và làm việc tại St. Paul Technical College cho đến khi về hưu (2001). Ngoại trừ tập Thơ ở đâu xa (Trầm Phục Khắc xuất bản, Hoa Kỳ, 1990) vốn chép lại từ kí-ức-thơ ra đời khi cải tạo, Thanh Tâm Tuyền hầu như ngại viết, vì chính ông đã tuân theo bài học Đạo đức kinh: Như thể không có sự gì xảy ra, đáng kể; ngoài các câu được viết/Lời không của ai, không nói với ai/Cùng một lúc mở và đóng, ở ngoài và ở trong; đã từng rũ bỏ kí ức, và đi. Năm 1995, ông có mặt trong Tuyển tập hai mươi năm văn học hải ngoại 1975-1995 (Đại Nam xuất bản, Hoa Kỳ). Năm 2006, gần ba tháng sau khi ông mất, giai phẩm Văn (bộ mới, California, Nguyễn Xuân Hoàng chủ bút) lại ra số đặc biệt Thanh Tâm Tuyền (1936 -2006) tháng 5&6, với sự cộng tác của nhiều bạn văn, bạn đọc yêu mến ông. Cùng lúc, các website văn chương hải ngoại đều có bài tưởng niệm. Tháng 3/2007, Thanh Tâm Tuyền được giới thiệu với tư cách là “cây thơ” trong Ngày Thơ Việt Nam lần thứ V (Văn Miếu, Hà Nội). Tháng 8/2011, Tạp chí Suối Nguồn (Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang & Nxb Tổng hợp Tp HCM) đăng in cùng lúc hai bài viết: Thanh Tâm Tuyền đi tìm tiếng nói của Đỗ Lai Thúy [in lại trong Đỗ Lai Thúy, Thơ như là mỹ học của cái khác, Nxb. HNV, H., 2012] và Tản mạn về Thanh Tâm Tuyền và những bài thơ tự do của Kinh Bắc. Sau đó, tiểu luận Bùi Giáng, một hồn thơ bị vây khốn (giai phẩm Văn, tháng 3/1973) của Thanh Tâm Tuyền được đăng lại trong tinh tuyển văn thơ Bùi Giáng, Đười Ươi Chân Kinh (Nxb HNV, H., 2012) và Bùi Giáng trong cõi người ta (Nxb Lao động, H., 2012).Hiện diện trên cõi đời tròn 70 năm, trải qua nhiều biến cố thời cuộc, lấy tự-do-sáng-tạo làm lẽ sống và lẽ phải của mình, trước sau, Thanh Tâm Tuyền là người “sâu sắc, uyên bác, tài hoa, nghiêm túc, tư cách và tiết tháo” (Đặng Tiến).

HN, I/2013

Advertisements

One response to “TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC: Một tiểu sử

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s