Nam Cao, một ngày đọc lại



Sáng tác của Nam Cao, đặc biệt trước 1945, gắn chặt với chất liệu đời sống nông thôn nông dân([1]). Bởi hơn ai hết, ông là người trải nghiệm tận cùng vị thế người dân của làng Đại Hoàng (Lý Nhân, Hà Nam) tại thời điểm mà tính chất nông thôn/nông dân của nó trở nên đậm đặc, phức tạp và được hiển thị tường tận hơn bao giờ hết: cùng lúc, mô hình làng xã tồn tại và bị/được điều tiết trong thể chế thực dân – phong kiến. Những liên kết, cộng sinh, đối kháng, mâu thuẫn giữa hai kiểu cấu trúc tổ chức xã hội và quyền lực như trên đã xâm nhập, lưu thông mạnh mẽ ở nông thôn – vùng địa lí dân cư chiếm phần lớn toàn bộ giao diện xã hội Việt Nam truyền thống. Nam Cao là “tiểu sản phẩm” và đồng thời, về sau, là chứng nhân, đương sự can dự vào bối cảnh làng xã nông thôn, khiến quá trình ấy, sẽ là tác nhân cơ bản tạo ra cảm hứng sáng tạo và ý thức chiếm lĩnh bằng được hiện thực vừa kinh qua, ở vị thế khác: nhà văn và “giáo khổ trường tư”. Có thể nói, viết về nông thôn nông dân là Nam Cao đang tự giải phẫu chính mình và làng quê mình sinh sống. Như vậy, làng trong tác phẩm Nam Cao, vừa là một thực thể xã hội vừa là thực thể văn học được kiến tạo bởi những dự đồ nghệ thuật của tác giả, xứng đáng cần thêm những soi chiếu từ nhiều góc độ khác. Để đọc tác phẩm Nam Cao viết về nông thôn nông dân, chúng ta có thể xuất phát từ những nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học về làng xã như kênh tri nhận chung.

Trong số năm loại “tập hợp người” cơ bản của làng([2]), thì tập hợp người quyền bínhtập hợp người gia đình xuất hiện khá đều đặn trong sáng tác của Nam Cao([3]). Chúng tôi hiểu tập hợp người ở đây là trước hết là tập hợp xã hội (social group) được phân chia, trong đó, với quyền bính là thiên về chính quyền làng xã – một tập hợp chính trị (political group), còn với gia đình là thiên về họ hàng, thân tộc (kinship) – một tập hợp dựa trên quan hệ tính giao, sinh đẻ và cái khung văn hóa nhất quán. Thông thường, nếu tập hợp chính trị được cấu thành và duy trì, ít nhất, dựa trên hệ thống luật lệ, khế ước xã hội thì tập hợp gia đình lại tìm đến cơ chế huyết thống, đạo lí, tình nghĩa để tồn tại và gối tiếp. Trong sáng tác của Nam Cao, tính chất thông thường này là khai thác từ mẫu số chung nhưng đồng thời, là tín hiệu riêng cho biết căn tính làng xã, nơi mà tầm ảnh hưởng, chi phối của nó tới mỗi cá nhân chắc chắn có những điểm khác biệt so với địa vực trung ương. Một vài phân tích dưới đây sẽ chỉ ra biểu hiện của căn tính đó và đồng thời, giúp chúng tôi minh chứng cái nhìn của nhà văn mang yếu tố nhị trùng: vừa phê phán và lên án, nhưng mặt khác, coi căn tính làng xã là thứ chất nền văn hóa rất khó thay đổi, bất luận nó được sinh ra, trưởng thành, biến đổi trong thể chế chính trị xã hội nào.

 Bậc tiên chỉ và gã bạch đinh trong làng: những ngả rẽ của quyền bính

            Có hai hạng trong tập hợp người quyền bính rất được Nam Cao khai thác: Một là, những lí dịch mà đứng đầu là lí trưởng, một nhân vật do dân xã bầu ra; hai là tiên chỉ, người đứng đầu hội đồng kì mục (vốn là những người không có phẩm hàm, chức vụ nhưng có nhiều điền sản và một lối sống được xem là đạo cao đức trọng). Thảng hoặc, Nam Cao nhắc đến hạng xã tuần, tuần đinh (trong coi an ninh cho làng) mà mạt hạng nhất là . Tuy chưa phải thuộc vào bộ máy đỉnh cao quyền lực nhưng tập hợp người này là những người “có quyền ăn quyền nói” lớn nhất trong làng. Tuy nhiên, ngay trong bản thân tập hợp này, hiện tượng phe phái, tranh giành địa vị, cá lớn nuốt cá bé luôn luôn diễn ra và chúng, một cách không ngưng nghỉ, cứ trút xuống và kéo theo những tập hợp khác lép vế hơn về mọi mặt: dân đinh, dân chính cư, dân ngụ cư, kẻ tứ cố vô thân, làm thuê làm mướn, đi phu đi dịch…

            Nhưng con đường quyền bính ở làng, như Nam Cao mô tả, luôn có những ngả rẽ của nó. Thứ nhất là tìm kiếm, trao đổi và xây dựng vai vế, thứ bậc. Những đường đi nước bước để một cá nhân có vai vế, dù là mạt hạng nhất, vẫn phải theo cách thức khá thuần thục: tìm kiếm, liên kết, nhờ cậy, ăn bám với thứ bậc cao hơn và dần dần tỏ ra mình có những quyền thế tương tự. Quyền bính đi từ Mua danh như nhân vật Bịch bỏ ra chục nghìn bạc để lo lót chút danh vị “ông hương”. Số tiền mà Bịch dành dụm từ vụ trầu bỗng dưng bị chia ra năm bảy mối: chồng quĩ, chè lá cho hạng kì cựu trong làng từ phó lý đến tiên chỉ, và tiền cho bữa khao rượu. Rút cuộc, Bịch chỉ có cái chức “ông hương” vô vị vô nghĩa đến mức khi có đám đông nói mỉa “hương cái con khỉ!” thì “mặt Bịch đột nhiên đỏ gay lên”. Cái danh mà Bịch mua được chỉ có thể biến Bịch trở thành “gã ngốc” trên sân đình, nơi cụ tiên chỉ có dịp quát và đe nẹt anh sang sảng. “Gã ngốc”, như Bịch, là “không biết cái chỗ ngoắt ngoéo” mà các lệ tạo ra trong hương ước – “một quyển thần chú để mấy ông kì mục hô tiền” và kẻ cơ hội như ông cựu lừa gạt. Mất tiền, danh hão, bị đặt vào tình thế khom lưng bợ đỡ, Bịch là hiện thân của ngả rẽ quyền bính đen tối, lũng đoạn và trơ trẽn. Nhưng Bịch cũng là hiện thân của một lớp người dưới đáy khát khao quyền lực và dùng nó để chạy thoát những áp lực lớn hơn (ở trường hợp của Bịch là thoát việc bắt phu). Khi kẻ bạch đinh nhận ra “tất cả nỗi cực khổ của một người lép vế trong thôn xã” thì cũng là lúc quyền bính được dịp chen chân vào đầu óc anh ta, thúc giục anh ta bằng mọi giá để với tới nó. Nam Cao tỏ ra rất tỏ tường thứ tâm lí tiểu nông này và diễn đạt nó không chỉ bằng cảm xúc “vừa tức tối, vừa chán nản” mà còn bằng trạng thái “mừng rỡ hiện ra tận mắt” của anh Bịch. Như thế, ngả rẽ của quyền bính bao giờ cũng có một khúc cua khá dai dẳng trên niềm háo hức “trông ra phết ông hương mới lắm!” mà đám quan viên đã vẽ ra cho người nông dân. Bởi thế, đại diện cho quan viên – cụ tiên chỉ, trong truyện này, dù chỉ xuất hiện ở khoảnh khắc nhưng cũng đã kịp ghi lại dấu ấn vai vế của mình: không ai ngoài ông ta là người có khả năng ban phát và tước đoạt dư vị quyền bính để nhờ đó, biến những kẻ ngốc hám danh thành con mồi tiền bạc, phục dịch bất khả kháng cho chính mình.

            Như đã nói, ngả rẽ của quyền bính có sự bám gót của một tập tính thuần nông ưa uy quyền, ưa cái vị thế xã hội hơn là chấp nhận vô danh, lép vế. Nam Cao cho thấy một thực tế là người nông dân không hẳn đối lập với quyền bính làng xã mà trong thâm tâm, còn coi đó như một chuẩn mực sống cần được vươn tới, trải qua. Đoạn đối thoại dưới đây trong Trẻ con không được ăn thịt chó đã làm bật nổi bật điều này:

“… Khi cả ba đứa trẻ đã lụt cụt chạy ra rồi, hắn mới đặt mâm xuống phản, nháy mắt và xếch môi lên để làm cái điệu bộ cười, rồi toang toang bảo như một kẻ cả vẫn đi ăn, đi họp:

– Láo toét! Chỗ này là chỗ quan viên uống rượu. Có phải không, các cụ?

Nhiêu Cừ bẹp mồm ra:

– Bẩm cụ bá dậy thế thật là chí lí.

– Ồ! Có chăng thì thế chứ!… Vậy mời quan viên nào!

[….]

– Bẩm các cụ, chả mấy khi các cụ có lòng chiếu cố đến chơi nhà chúng cháu… Gọi là có chén rượu nhạt, xin rước các cụ cứ thật thà đi cho.

– Ờ!

Nghe tiếng “ờ” rất sang rung lên trong cái cổ họng của binh Hựu bắt chước giọng ông chánh Ngạc, cả bốn anh cùng cười”

            Đoạn đối thoại trên cho thấy nhu cầu được tái diễn, tái lặp uy thế, giọng điệu của tập hợp người quyền bính là thường trực và có thể trỗi dậy bất cứ lúc nào trong trí óc của kẻ bạch đinh. Thái độ kẻ cả, thích bắt nạt, quát tháo được đi kèm với giọng khúm núm, lịch sự đãi bôi cũng đã “dự trữ” sẵn trong mồm miệng của cái anh nghèo kiết xác. Và đặc biệt, anh ta còn nhắc đến “quan viên”, “các cụ”, “cụ bá” như một cách tăng thêm trọng lượng lời lẽ cho mình. Cách thức đó khiến họ cảm thấy “rất sang”, chìm vào cảm giác thỏa mãn dù chỉ trong thoáng chốc. Tôi cho rằng, khi Nam Cao dựng đoạn hội thoại này, ông không chỉ nhắm đến tính chất trơ trẽn, lố bịch của đám người tham ăn tục uống mà còn dự báo khả năng đi từ “bắt chước” đến trở thành ông chánh Ngạc là hoàn toàn có thể xẩy ra ở những người dân cùng. Đây dường như là căn tính văn hóa mà làng xã nông thôn đã cấy ghép trong từng đơn vị dân cư. Do đó, bất kể ở đâu và trong thể chế nào, cái căn tính này vẫn sẵn sàng ra mặt (Nam Cao đã chỉ ra rất chi tiết thói ra mặt quyền uy của nông dân trong truyện ngắn viết sau Cách mạng Tháng 8, truyện Đôi mắt), vẫn tiếp tục là men say khó lòng thuyên giảm ở nông thôn Việt Nam. Mức độ ngắn gọn và thẳng thừng của quan điểm Một người làm quan cả họ được cậy đã bày vẽ cho những tập hợp người dân đen con đỏ chú mục đi tìm ông nọ bà kia để cầu cạnh, dựa dẫm, tiến thân. Trong xã hội chuyên chế phi dân chủ và bị lũng đoạn bởi luật lệ làng xã, điều này lại càng diễn ra trắng trợn và có phần áp đảo. Đọc Chí Phèo, người ta có thể nói ngay Chí Phèo là nạn nhân trong bàn tay thâm hiểm của cụ tiên chỉ Bá Kiến làng Vũ Đại. Anh ta đã bị Bá Kiến biến thành công cụ bạo lực. Nhưng cũng phải thấy rằng Chí còn là điển hình của tâm lí thích được quyền bính sử dụng, thích được trao một thứ uy quyền nào đó dù nó bất nhân hay phi văn hóa. Tuyên bố tự đắc “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta” của Chí là sản phẩm hoàn hảo của những ngón đòn “bóp đến nửa chừng” mà quyền bính hay dùng với kẻ bạch đinh và đồng thời, cũng thể hiện rõ một phần bản chất thâm căn cố đế của làng xã thuần nông: luôn có những “thằng đầu bò”, “những thằng bạt mạng”, “những thằng du côn” rất dễ dàng bị quyền bính lợi dụng, rất nhanh chóng tỏ ra thích thú quyền bính. Đấy là hạng người một khi đã nhiễm doping quyền bính thì tỏ ra nguy hiểm gấp nhiều lần thứ quyền bính được cắt cử. Thiển nghĩ, có lẽ, Nam Cao là nhà văn chuyên chú đặt ra những vấn đề rất nghiêm túc về thực trạng quyền bính nông thôn Bắc bộ đầu thế kỉ XX. Và cho dù đã có khoảng cách về thời gian, bối cảnh, thì các vấn đề đó vẫn không mất đi tính thời sự, vẫn đủ sức kêu gọi những tái phản hồi và bàn luận một khi suy ngẫm về nông dân, nông thôn hiện nay.

 Gia đình hạt nhân: sự co rút của các không gian sống

            Gia đình hạt nhân, theo các nhà nhân học, được tạo thành bởi hai thế hệ: cha mẹ và con cái chưa lập gia đình của họ. Gia đình hạt nhân, vì thế, trở thành tập hợp người thân tộc cơ bản và vi mô nhất trong đời sống xã hội. Xem xét cấu trúc một gia đình hạt nhân bao giờ cũng cho phép nhìn thấy các dữ liệu khá tường tận về bối cảnh sống, về tâm tính chung của con người trước những điều kiện mà môi trường xã hội đặt ra cho họ. Nhìn vào sáng tác của Nam Cao, có thể thấy, ông luôn tập trung mô tả gia đình hạt nhân như là một phạm vi, không gian sống chủ yếu nhất của người nông dân trong làng xã. Sự xuất hiện của gia đình mở rộng (ba thế hệ theo chiều dọc: cha mẹ, con cái đã có vợ có chồng, và cháu) vốn từng được coi là giá trị đáng ngưỡng mộ trong cái nhìn truyền thống (gia đình tam/tứ đại đồng đường) gần như không được Nam Cao bận tâm và thậm chí, đẩy vào tình thế biến mất như một nghịch lí. Tại sao?

            Trước tiên, hãy xem Nam Cao phác thảo những gia đình hạt nhân tồn tại trong phạm vi một làng với mấy nét chính: 1) cực kì neo đơn và cô độc (lão Hạc chỉ sống với con chó vàng – Lão Hạc; dì Hảo phải làm con nuôi từ bé, khi lấy chồng thì phải làm lụng để nuôi chồng, nôi vợ bé của chồng – Dì Hảo; bà lão trong Một bữa no: đơn độc nuôi con rồi nuôi cháu và chết trong cảnh thảm…); 2) teo tóp dần về số lượng (nhà Dần trong Một đám cưới: mẹ Dần chết, hai em kề Dần bị lên đậu cũng chết, chỉ còn lại Dần, người bố già cả và hai đứa em líu díu; nhà Ninh trong Từ ngày mẹ chết: còn bố, Ninh và em trai; nhà Phúc trong Điếu văn: Phúc bị hen, đau ốm rồi chết để lại vợ và hai con nheo nhóc…); 3) đông nhưng không mạnh (nhà Bịch với hai vợ chồng và bốn đứa con trong Mua danh; gia đình “năm mẹ con thường giống như một bọn dân hèn yếu cùng chung phận con sâu, cái kiến dưới ách một ông bạo chúa” trong Trẻ con không được ăn thịt chó;…); 4) bất hạnh, đau khổ vì nghèo đói (vợ chồng nhà đĩ Chuột trong Nghèo; vợ chồng Lúng trong Đòn chồng; vợ chồng Thai trong Làm tổ; thậm chí, ngay cả gia đình mang tiếng trí thức như văn sĩ Hộ trong Đời thừa, gia đình Điền trong Trăng sáng…). Những đặc điểm này còn đi kèm với một kiểu danh xưng đôi khi dẫn đến trạng thái phi danh tính của gia đình nông dân mà nhà văn chủ ý gợi ra: đấy là các danh xưng xoàng xĩnh quê kệch hoặc không có tên. Nói khác đi, họ có nguy cơ bị mất đi một chỉ dẫn mang tính người. Và vì thế, một tập hợp người gia đình, xét cho cùng, rất dễ rơi vào lãng quên, bị bỏ rơi hoặc rỗng cả về tư cách tồn tại lẫn địa vị xã hội.

             Mức độ thu nhỏ và có nguy cơ biến mất của gia đình hạt nhân trong làng xã còn bắt nguồn từ một thực tế bất thường: nó dung chứa những cá nhân có khuôn mặt xấu xí, dị dạng, quái gở (gia đình bà quản Thích với đứa cháu nuôi tên Đức trong Nửa đêm; gia đình bà cô Thị Nở trong Chí Phèo…). Trong một cộng đồng “cứ hay húc đầu vào những việc chẳng liên can gì tới họ” thì những gia đình có yếu tố bất thường là miếng mồi ngon cho thú đàm tiếu, cười cợt, xỉa xói, thóa mạ (trường hợp lang Rận là ví dụ điển hình). Vì thế, gia đình hạt nhân vốn đã nhỏ lẻ lại càng yếu ớt trước đám đông và trước các tập hợp người khác. Đa số họ đều tự thua trước tập hợp người quyền bính, tự đầu hàng trước các đòi hỏi về miếng ăn, về nhu cầu vật chất tối thiểu để duy trì sự sống. Gia đình hạt nhân không thể mở rộng bởi đơn giản thế hệ cha mẹ chưa bao giờ hoàn thành trách nhiệm an sinh cho thế hệ gối tiếp. Nguy cơ teo dần các hoạt năng tương lai gần như lộ rõ khi mà hiện tại chỉ là tuyệt vọng tột độ (Lão Hạc), là bế tắc (Đời thừa), hoặc nhẫn nhục chịu đựng (Dì Hảo)… Điều này, dĩ nhiên, không cùng chung cái nhìn với các nhà văn lãng mạn, chẳng hạn Thạch Lam. Tuy Thạch Lam cũng mô tả những gia đình hạt nhân (Nhà mẹ Lê, Hai đứa trẻ, Cô hàng xén, Gió lạnh đầu mùa…) với tình cảnh nghèo khó, bất hạnh nhưng dư vị đọng lại từ không gian sống vẫn toát lên chút ấm áp, đẹp đẽ vì bản thân mỗi thành viên trong tập hợp người ấy đều có đức hi sinh, cảm thông và hướng về một dấu hiệu tươi sáng hơn.

            Có thể thấy, thực chất của việc chủ yếu mô tả gia đình hạt nhân là cách để phản ánh sự co rút các không gian sống của người nông dân. Rất hiếm khi Nam Cao mô tả những trạng thái gia đình yên vui, dù là thứ yên vui của thôn xã như ca dao đã từng hướng tới: trên đồng cạn dưới đồng sâu/chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa. Thậm chí, nhà văn còn tô đậm trạng thái tồn tại mong manh, dễ đổ vỡ, dễ bị tước đoạt của gia đình hạt nhân bởi các biến cố mất mùa, giáp hạt, thiên tai, bệnh tật, bắt phu đi lính… Những tập hợp người gia đình, vì vậy, chỉ có ý nghĩa về mặt huyết thống, thân tộc hơn là các ràng buộc xoay quanh ý thức bảo vệ, che chở và phát triển từng cá nhân. Trong nhiều tình huống, Nam Cao còn cho thấy gia đình không phải là nơi trú ngụ lí tưởng của một cá nhân khi biến cố dồn đẩy họ đến đường cùng (chẳng hạn, trong Một đám cưới). Ở đây, Dần lấy chồng không phải vì “trước sau cũng một lần” như nếp nghĩ của người cha đang lâm vào cơn túng quẫn mà cơ bản chỉ vì Dần không thể bám víu vào tình thế neo đơn, đói kém của gia đình mình. Nhưng ngay cả cái gia đình chồng mà Dần là thành viên cũng chẳng có gì sáng sủa hơn. Cơ hội để vươn tới gia đình mở rộng với Dần quả là bất khả. Điều ấy, dưới góc nhìn văn hóa, là biểu hiện thụt lùi của tính hiện đại, nhân văn mà xã hội đáng ra phải đi tới. Và đây, xét đến cùng, là điểm đi xa ngấm ngầm của ngòi bút Nam Cao./.

[1] Các tác phẩm của Nam Cao được khảo sát và trích dẫn trong bài này lấy từ Nam Cao, Tuyển tập, 2 tập, Nxb. Văn học, H., 2002

[2] Xem thêm sự phân chia các “tập hợp người” ở làng mà nhà dân tộc học Từ Chi đã chỉ ra trong ‘Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ’// sách Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb. VHTT, H., tr.169-272

[3] Một điểm đáng chú ý: Việc Phan Kế Bính, ngay từ những năm đầu thế kỉ XX, trên Đông Dương tạp chí, cho đăng những bài khảo cứu của mình về làng xã mà về sau được tập hợp thành cuốn Việt Nam phong tục (1916) chắc chắn gây chú ý không nhỏ đối với các nhà văn hiện thực. Bằng cớ tương đối gần gũi là Ngô Tất Tố, một nhà nho theo lối tân học như Phan Kế Bính, trong tiểu thuyết-phóng sự Việc làng (1937) lại tiếp tục phác họa, phân tích những sinh hoạt làng xã với không ít cảm hứng phê phán.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s