Nhân tâm


            Trên nhiều con đường đi đến hòa hợp, hòa giải dân tộc giữa trong và ngoài nước, giữa những người chiến thắng và kẻ thất bại, sau 30/4/1975, có một cửa ngõ khá khó khăn và phức tạp, dù được mở ra khá sớm và luôn xứng đáng được coi trọng, là văn chương. Những tiếng vọng văn chương xuyên không gian địa lí của cộng đồng người Việt nơi trú xứ, một cộng đồng chủ yếu đầy thêm bởi bộ phận trí thức, văn nghệ sĩ đô thị miền Nam di tản, theo nhiều cách khác nhau, đã chạm đến quê nhà, cũng với những thái độ đón nhận khác nhau. Lựa chọn nào cho cửa ngõ ấy từ phía quê nhà trong thời điểm hiện tại, khép chặt hơn, chủ ý tô đậm sự đối kháng và vênh lệch để tạo ra ngăn trở, hay tích cực thể hiện nhu cầu đối thoại và lắng nghe thực sự của những tấc lòng cùng chung tiếng Việt, dân tộc Việt, là điều rất đáng ngẫm nghĩ.

Giới cầm bút hải ngoại là những người sớm ngỏ ý tạo lập con đường hòa hợp dân tộc, vượt qua ranh giới địa lí chính trị nhằm thúc đẩy cơ hội tương giao văn hóa giữa người Việt cầm bút. Ngay từ tháng 10/1991, tiên phong cho tinh thần hòa hợp, trước những lời đe dọa và để đương đầu với những lời đe dọa ấy, Khánh Trường chủ trương duy trì tờ Hợp Lưu. Như tên gọi, Hợp Lưu sớm nhận ra tâm tư cộng đồng và xu hướng tất yếu của thời đại nên trong một bố cáo có tính chất tuyên ngôn, Khánh Trường nói rõ: “Hợp Lưu sẽ là diễn đàn phổ biến tất cả các tác phẩm của anh em văn nghệ sĩ trong và ngoài nước, những tác phẩm nói lên được khát vọng chung của dân tộc, tấn công mạnh mẽ vào thành trì lạc hậu, tha hóa, chia rẽ, lầm than, đói nghèo, vong thân cũng như phô diễn cái được cái đẹp, cái hay của ngôn ngữ Việt”[i]. Tuy nhiên, trên thực tế, Hợp Lưu phải nín thở đợi chờ đến số 18, tháng 8 năm 1994, sau khi đẩy Văn Cao làm tín hiệu công khai cách đó mười số, mới nhận được phản hồi từ phía người cầm bút trong nước[ii]. Sự chậm trễ và nhỏ giọt lúc mở màn cũng là động lực thúc đẩy những xé rào, bứt phá, không ngần ngại mà đầy hồ hởi ở bước chạy tiếp theo. Từ giữa thập niên 90 trở đi, rất nhiều cây bút sáng tác lẫn nghiên cứu tên tuổi trong nước đã chọn Hợp Lưu làm diễn đàn, khiến các cuộc gặp gỡ thẩm mĩ và tư tưởng nghệ thuật, bằng cách này cách khác, luôn có mặt các khách văn đứng từ bờ biển Đông. Và nhờ thế, văn chương tiếng Việt không bị mất đi, teo lại trước các tác nhân khó tránh khỏi của đời sống chính trị, xã hội[iii]. Một thế hệ làm nên văn học giai đoạn Đổi mới trong nước đã chủ động có mặt, dù đăng lại, trên Hợp Lưu vào giai đoạn huy hoàng của nó, từ Tạ Duy Anh (Lão Khổ), Nguyễn Quang Thân (Vũ điệu của cái bô), Bảo Ninh (Gió dại, Khắc dấu mạn thuyền), Nguyễn Quang Thiều (Mùa hoa cải bên sông, Người đàn bà xóm trại), Nguyễn Huy Thiệp (Xuân hồng), Nguyễn Thị Thu Huệ (Phù thủy, Hậu thiên đường), thơ Thanh Thảo, Hoàng Hưng, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy, Lê Đạt, Lâm Thị Mỹ Dạ…  Muộn hơn, vào những năm 2000 về sau, đã thấy một thế hệ viết trẻ trong nước tiếp đà giao lưu, từ Hồ Anh Thái, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh đến Đỗ Hoàng Diệu, Lynh Bacardi, Nguyễn Vĩnh Nguyên… Vơi đi những dị biệt trong vị thế lẫn tâm thế, những khúc mắc, lấn cấn trong quan điểm, để tập trung vào sự hiện diện xác đáng, đẹp đẽ của không gian tiếng Việt, rõ ràng, là có thật và sự thật này, vì vẻ chân thành và dũng cảm của nó, trở nên rất hữu ích trong việc hàn gắn “trong – ngoài” sau nhiều biến cố làm phân rẽ, đứt gãy lòng người.  Cho đến khi các trang văn học liên mạng xuất hiện không ngừng nghỉ, từ Talawas, Tiền Vệ, đến Da Màu, Gió-o…,  thì ngăn trở địa lí mất hẳn, để nhường chỗ rộng hơn cho những tương thông chữ nghĩa, trao đổi và tiếp nhận tri thức của độc giả tiếng Việt khắp nơi trên thế giới. Phải nói một cách sòng phẳng rằng, các trang văn học mạng này, hơn một thập niên qua, đã là diễn đàn vào loại hiệu quả nhất trong khả năng thúc đẩy sự “hiểu biết lẫn nhau” của chính chúng ta, một cộng đồng mà vì nhiều lẽ khác nhau, rất ít khi được “hội ngộ” để tri nhận cho thật thấu đáo nhiều vấn đề thuộc quá khứ và hiện tại. Bởi thế, hãy nhìn lại lượng bài vở, như trên Talawas, của những người có thân danh cao, những người đang là chuẩn mực trí thức hôm nay, để thấy nghĩa lí của một giai đoạn chúng ta đã đến gần với tinh thần hiếu tri và trách nhiệm xã hội đàng hoàng như thế nào.

Năm 1998, Quang Trung của Sông Côn mùa lũ được phép hồi hương nên những nhân vật bình thường khác cũng có cơ hội tương tự[iv]. Độc giả trong nước lần lượt được tiếp xúc những sáng của nhà văn hải ngoại qua các tập sách xuất bản chính thức, từ văn xuôi của Trần Diệu Hằng, Lê Thị Huệ, Nam Dao, Mai Ninh, Trần Mộng Tú, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Hoàng Khởi Phong, Tràng Thiên…; thơ của Nguyên Sa, Du Tử Lê, Đỗ Kh., Khế Iêm…, đến phê bình của Đặng Tiến, Trần Thiện Đạo, Bùi Vĩnh Phúc… Mức độ lí thú của những cuộc đọc này, đôi khi không chỉ nằm ở chỗ tìm biết xem người viết xa xứ tạo tác cái mới ra sao mà còn để tâm đến những gặp gỡ đáng ngạc nhiên giữa họ với người viết tại quê nhà. Một sự giao cắt giữa Nguyễn Huy Thiệp với Trần Vũ khi cả hai, vào cùng thời điểm (cuối thập niên 1980) đều viết những truyện giả lịch sử, có thể coi là kết quả tương đồng trong cái nhìn về quá khứ với tất cả sự gai góc, mới mẻ, hấp dẫn rất riêng. Chính việc đọc Nguyễn Huy Thiệp, qua loạt bài giới thiệu của Trần Đạo, Văn Ngọc, Thụy Khuê (Pháp), Nguyễn Vy Khanh (Canada), Trương Hồng Quang (Đức), Đào Trung Đạo (Mỹ), Nguyễn Đình Đăng (Nhật Bản)…., thuộc vào số hành vi đầu tiên mở ra sự đồng cảm nhân tâm người Việt trong-ngoài nước thời hậu chiến. Tương tự, ứng xử của Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải trong thể loại tiểu thuyết trường thiên có nhiều nét gần gũi với cách làm của Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong khi họ cùng hồi cố, tái dựng hành trạng những nhân vật lịch sử từng làm nên diện mạo dân tộc. Ở trường hợp khác, Lê Thị Thấm Vân trong văn xuôi và Vi Thùy Linh trong thơ, tuy chưa triệt để đồng dạng nhưng vẫn dễ đặt cạnh nhau bởi lối viết gây hấn với những quan niệm truyền thống về người phụ nữ, đạo đức và tính dục, gợi nhắc đến tiếng nói nữ quyền vốn từng bị mờ nhạt trước đây. Nếu gọi những biểu hiện vừa nêu là sự gặp gỡ nhất định trong cảm quan sáng tạo thì sẽ đáng phấn chấn hơn khi biết rằng, mọi nơi chốn và biên giới của người viết văn tiếng Việt đều còn ẩn chứa tính đa dạng, sinh động và thành tựu khác nữa. Vấn đề là cần chấp nhận chúng.

 Giao liên văn học trong-ngoài nước có lẽ chỉ thực sự va chạm đến chiều sâu văn hóa khi quan điểm đưa ra mang tính chất phản biện và tranh luận. Với sự tham dự của các bút khách đến từ trong nước, giới cầm bút Việt ở nước ngoài đã tìm được mạch nguồn đối thoại và đối diện. Loạt chủ đề Viết, Cái mới và cái hay trong văn chương, Màu da và ngôn ngữ; Biên giới trong văn chương; Tình yêu, tình dục và phái tính trong văn chương; Văn chương nữ quyền; Tác phẩm văn học lớn thì phải đơn giản ?; Nhân văn – Giai phẩm; Văn học về chiến tranh Việt Nam; Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học Việt Nam; Tiểu thuyết Việt Nam; Văn chương Việt Nam bước vào thế kỉ 21…, mà các khách văn chương trong-ngoài nước từng theo đuổi bàn luận đều có thể coi là điểm nhấn nổi bật trong đời sống học thuật đương đại. Các cuộc tranh luận về thơ con cóc, về trí thức – phản trí thức, về chủ nghĩa hậu hiện đại giữa Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên, Đỗ Minh Tuấn với Thường Quán, Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc-Tuấn…., vẫn còn nguyên vẻ gay cấn, sôi nổi và phần nào gợi nhớ nếp sống tự do nhận thức và tranh biện văn hóa. Là người sớm tiếp xúc với văn học hải ngoại, Đỗ Minh Tuấn từng viết hai tiểu luận mang tính đối thoại, là Sự lễ độ của chữ (đối thoại bài viết Lê Đạt và Bóng chữ của Đặng Tiến) và Khế ước văn hóa trong bài thơ con cóc (đối thoại với Thơ con cóc, etc… của Nguyễn Hưng Quốc) nhằm mong muốn “có được một nền tảng văn hóa chung vững bền sâu rộng giữa những con người Việt Nam sống ở mọi nơi trên trái đất”[v]. Thực ra, ngay cả khi có sự bất đồng kéo dài đến mức nghe ra tiếng bấc tiếng chì chen nhau, thì hứng thú phản biện và tranh luận vẫn rất cần thiết để thanh lí cách nhìn cũ kĩ, giản đơn, thanh lí cả khế ước văn hóa lạc hậu, trì trệ, phản nhân văn. Chính vì trực diện đi vào những gì gọi là truyền thống, là dân tộc tính trong đời sống văn hóa văn chương nên không ít những phản biện, tranh luận đã phá vỡ những niềm tin, giá trị đã mặc định. Do đó, phản biện, tự nó đã chọn con đường khó khăn nhất và không mấy thiện cảm nhất, nếu hiểu thiện cảm như là tín hiệu đầu tiên trong tâm lí tiếp nhận. Dễ hiểu vì sao phản ứng của chúng ta là khó chịu và tìm cách qui kết sự thẳng thắn trong tranh luận vào các án đạo đức hoặc động cơ chính trị. Trong chiều hướng này, một phần thành tựu học thuật của giới văn chương ngoài nước sẽ bị lờ đi hoặc không được chính danh hóa vì những yếu tố ngoài chuyên môn, như đã từng xẩy ra với các công trình của Thụy Khuê, Nguyễn Hưng Quốc,  Hoàng Ngọc-Tuấn… Dường như khi trích dẫn họ, người viết trong nước thường có cảm giác vừa thích thú vừa e ngại và sợ hệ lụy.

Tự bao giờ và vì nguyên cớ gì mà sự tương thông tại cửa ngõ văn chương giữa trong-ngoài nước vẫn còn bị dựng lên nhiều rào cản? Câu hỏi đó sẽ không cần trả lời nếu nhìn vào “thế giới phẳng” hiện giờ,  khi các kĩ thuật truyền thông hiện đại nhanh chóng khỏa lấp các khoảng trống thông tin. Vấn đề có lẽ vẫn nằm ở nhân tâm. Một nhân tâm chưa thể/được thu hẹp cự li thì dù văn chương kì diệu đến đâu cũng thật khó đi đến cộng cảm cao nhất.

[i] Dẫn theo Thụy Khuê, “Thử tìm một lối tiếp cận văn học sử về hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975 – 2000’ <Nguồn: http://hopluu.net/tryenhaingoai/thuykhue-25namVHNH.htm&gt;

[ii] Chủ đề Văn Cao trên Hợp Lưu số 8 có bài viết của Hoàng Cầm, Dương Tường và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Số 18 có bài viết của Hoàng Ngọc Hiến (Sức mạnh của văn hóa và sự phát triển của văn minh, một tiểu luận công phu bậc nhất và được in lại nhiều nhất của Hoàng Ngọc Hiến) và Nguyễn Huệ Chi (Vài cảm nhận văn  học Việt Nam hải ngoại, từng đăng trước đó, trên Tạp chí Văn học tại Hà Nội vào tháng 2/1994).

[iii]Nhà văn Trần Vũ, người tham gia ban biên tập Hợp Lưu, cho biết: “Thời điểm 91, chữ “Phỡ” trên thực đơn phở Thụ viết với dấu ngã. Tiếng Việt đã không còn là quốc ngữ, mất thiêng, không mấy ai quan tâm và rất nhiều pha Anh, Pháp vào trong câu chuyện […] Chữ Việt in trong số Hợp Lưu ra mắt là thứ chữ không còn có thể dùng để hái ra tiền, một thứ tử ngữ” (Trần Vũ (2002), “Hợp Lưu 12 năm – Trang tôn kinh huyền hoặc hậu hiện đại”, nguồn: http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=1295&rb=0102

[iv] Sông Côn mùa lũ được Nguyễn Mộng Giác viết trong quãng 1977-1981, xuất bản tại Hoa Kỳ vào các năm 1990, 1991. Năm 1998, được xuất bản [với một nhãn mác có quyền uy: NXB Văn học và Trung tâm nghiên cứu Quốc học] lần đầu trong nước và các năm sau (2003, 2007) tái bản, được dựng thành phim truyền hình. Năm 2012 được giải thưởng Sách Hay.

[v] Đỗ Minh Tuấn (1996), Ngày văn  học lên ngôi, NXB Văn học, H.,  tr. 281

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s