Thời của tản văn


            Không khó để thấy, chừng mươi năm trở lại đây, các đầu sách được dán nhãn tản văn, tạp văn, tạp bút…, gần như ra đời liên tục ở hầu hết các nhà xuất bản trong nước. Cho dù nghi lễ đặt tên có vẻ không thật thống nhất và dứt khoát, nhưng tựu trung, các cuốn sách ấy, với dung lượng vừa phải, đều thành hình sau khi các bài viết trong đó, ngày này qua tháng khác, đã xuất hiện dầm dề trên nhiều mặt báo. Thành danh và thành công nhờ loại sách này, rất nhiều cây bút đã dồn tâm sức để bám riết một thể loại mà, nói sòng phẳng, nổi trội lên nhờ vào cả sự chấp thuận dễ dãi của độc giả.

Đánh nhỏ thắng lớn

            Sẽ không sợ sai khi nói rằng tản văn đã được nuôi dưỡng và rất nhiều khi, bị thao túng bởi các trang báo. Mở một trang báo bất kì, không kể truyện ngắn và thơ là hai món thất thường xuất hiện, thì các đoạn viết nhỏ, bằng bao diêm trở đi, với muôn kiểu nội dung và cách viết khác nhau, trường kì neo chặt đến thành mục hẳn hoi. Người ta thấy ở chúng, hoặc là hồi ức kỉ niệm của cá nhân, hoặc vì chuyện thế thời mà lạm bàn, cũng không chừa cả chuyện quốc gia đại sự được thu vào vài nghĩ ngợi thoáng qua. Đọc để thư giãn, giết thì giờ nhưng cũng có thể đọc để tri nhận thêm, dù ít ỏi, những thông tin về một món ăn, một lễ hội, một phố xá, một chuyến ngao du,  hay một nhân vật, một vùng địa-văn hóa nào đó. Hơn cả thái độ chiều chuộng của một cửa hàng bách hóa, tản văn bày biện tất thảy các loại gia vị, từ vui vẻ, bông đùa, giễu cợt đến đến nghiêm ngắn, thiết tha, “tải đạo” và không hiếm trường hợp là lảm nhảm trữ tình. Chính vì khả năng phục vụ nhanh và khéo léo cho mọi đối tượng mà tản văn, trong thời đại không thật dư dả thời gian đọc, đã hút vào đó một lượng công chúng rộng rãi, đa dạng thành phần và trong số này, có hẳn những lớp độc giả trung thành. Đáng chú ý hơn, các lá phiếu dành cho tản văn vẫn còn nguyên nồng nhiệt, vì sau khi đọc tản văn trên báo, lập tức chuyển sang mua sách tản văn. Người hiểu rõ thực tế này không ai hơn Nguyễn Việt Hà, một “đại gia” tản văn, khi thừa nhận “ngày hôm nay, số người mua và đọc tạp văn thường đông hơn hẳn số người mua và đọc tiểu thuyết”[1]. Thực tế này “nên lo hay mừng” chưa vội bàn nhưng ít nhất, nó khẳng định tản văn đã thắng lớn trên một thị trường văn học mà văn học dịch/văn học nước ngoài đang chiếm thế thượng phong và đi sâu trong hầu hết các cuộc đọc bài bản, kĩ lưỡng.

            Tính chất đánh nhỏ thắng lớn của tản văn hẳn còn phải kể đến số lượng các cây bút ồ ạt tham gia thâm canh thể loại này. Hầu như không vắng ai, kể cả những tác giả đã mặc nhiên gắn với truyện ngắn, tiểu thuyết hay thơ. Một số bước hẳn vào đường chạy và lập kì tích như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý với tư cách là tác giả của dăm ba cuốn tản văn thuộc dạng best-seller bất ngờ: Gáy người thì lạnh, Yêu người ngóng núi, Tự nhiên như người Hà Nội, Con giai phố cổ… Một số tạt ngang nhưng cũng gây ấn tượng như Đỗ Bích Thúy với Trên căn gác áp mái, Đến độ hoa vàng; Thụy Anh với 100 gờ-ram hạnh phúc; Việt Linh với Năm phút với ga xép; Cao Huy Thuần với Chuyện trò; Sợi tơ nhện. Một số tỏ ra gặp duyên rồi nhất định lựa chọn như Nguyễn Vĩnh Nguyên với Tivi, xe máy, nhạc chế, chày cối, karaoke, tăm xỉa răng và những thứ khác; Những đồ vật trò chuyện cùng chúng ta; Với Đà Lạt, ai cũng là lữ khách; Trần Nhã Thụy với Cuộc đời vui quá không buồn được; Triều cường, chân ngắn và rau sạch; Trang Hạ với Đàn bà ba mươi; Nắm tay và làm tình; Hoàng Hồng-Minh với Lòng người mênh mang…. Có tác giả vừa đến và đang muốn dừng lại khá lâu như Đỗ Phấn với Hà Nội thì không có tuyết, Ngồi lê đôi mách với Hà Nội, Nguyễn Ngọc Tiến với Đi ngang Hà Nội, Đi dọc Hà Nội, Đi xuyên Hà Nội. Có tác giả đến muộn nhưng lập tức độc sáng như Y Phương với Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm. Có tác giả từ bút danh đến tên thật đều sắc sảo và đa sự như Thảo Hảo-Phan Thị Vàng Anh. Trường hợp Nguyễn Quang Lập với Ký ức vụn lại là ngoại lệ thú vị khi những bài viết trong đó vốn gây sóng dư luận trước tiên ở môi trường internet. Và giờ đây, khi mạng xã hội được cá nhân hóa tối đa thì viết tản văn đã là thói quen của nhiều “nhà”, từ nhà toán học, nhà tâm lí, nhà giáo đến thậm chí, các nhà “cải cách xã hội” tự phong. Gạt bỏ quyền tự do được viết, hay viết chỉ để thỏa mãn tiếng nói riêng tư, thì cơn cớ sâu xa cho hiện tượng cùng phấp phới khẩu hiệu tản văn lại rất gần với trắng phớ tính toán, là chỉ để mưu sinh ngon lành hơn và không ít lần, trong số các nhà tản văn chuyên nghiệp cũng có vài bỉnh bút phải tự “đình công đòi tăng lương” như Nguyễn Việt Hà ví von[2]. Nhu cầu “kiếm ăn xoàng” mà Tản Đà, người cũng từng giữ một mục tạp văn trên Đông Dương tạp chí cách đây trăm năm, khởi xướng còn tương đối dè dặt thì giờ đây đã thành “động lực sáng tạo” của nhiều cây bút tản văn. Nói vậy để thấy, sự hăm hở viết tản văn trong một bối cảnh văn học còn bị “úm” thường xuyên bởi đồng tiền bát gạo sẽ nhắc nhở cho ai đó đừng tưởng bở vào sự phát triển lành mạnh tự thân của tản văn. Thời của tản văn cũng là thời mà nhà văn tự xoay xở thích nghi mạnh mẽ nhất với sự rộng hẹp trong hầu bao của độc giả thay vì, quan trọng hơn, là sự cân đo đong đếm các vùng thẩm mĩ tiếp nhận mơ hồ khó nhận biết.

            Tuy vậy, sự nở rộ của tản văn, theo tôi, chỉ đáng kể khi chúng ta buộc phải thật lòng thừa nhận về tinh thần dân chủ của các thể loại văn học. Một giai đoạn dài trước đây, bởi những quán tính văn nghệ đường lối, giới cầm bút nước ta ưa thích triển khai những câu chuyện lớn, và kéo theo đó, trong văn xuôi, tiểu thuyết, truyện ngắn và cùng lắm, bút kí/tùy bút mới được xếp chiếu, được đầu tư lao động. Những mô hình viết khác, như thư từ, nhật kí, tự truyện, hồi kí…, bị phớt lờ và chịu không ít dị nghị. Thói quen đánh giá thiên về giá trị phản ánh hiện thực cuộc sống lớn lao trong tác phẩm đã lảng tránh những tản mạn cảm xúc, suy nghĩ rời rạc, vụn/vặt và hết sức riêng tư. Tản văn với đặc trưng ngắn, gọn, “tiểu tự sự”, tự do tùy hứng của mình cũng chịu chung mặc cảm bị lép vế trên sân chơi của các thể loại lớn. Nhưng bởi sự đảo chiều trong thời đại thông tin, nơi cái nhanh gọn, dễ nắm bắt, dễ triển khai là qui tắc hàng đầu của mọi kênh phát và nhận, nên tản văn có cơ hội dành lấy vị thế mới. Vì thế, đã đến lúc coi những cuộc chơi nhỏ, vừa tầm đón đợi và mặt khác, linh động bước vào thị trường văn chương, cũng là một nỗ lực xây dựng giá trị. Thừa nhận sức mạnh của tản văn đồng nghĩa với việc các thể loại ngồi chung một cách bình đẳng, các cách thức viết được hưởng quyền lợi “ông kễnh” như nhau. Không cần quá nắm chắc các diễn biến của văn chương nước nhà vài chục năm gần đây thì người ta cũng hiểu, để một thể loại như tản văn lọt vào giải thưởng văn chương tầm quốc gia là sự xa xỉ. Tuy nhiên, khi sách tản văn ngự khắp nơi thì văn đàn đương nhiên sinh động hơn và các chỗ trống thể loại sẽ được lấp đầy không ngớt. Mỗi thể loại có một nghĩa lí của nó. Và tản văn, trong thời này, dù có vẻ nhộn nhạo nhưng chẳng phải đang lĩnh ấn trận tiền đó sao?

Đánh hay thắng đẹp

            Thoạt nhìn, viết tản văn dễ đến mức như là công việc xẩy ra trong lúc nhàn rỗi, trong lúc chờ đợi cái gọi là “tác phẩm lớn” của người viết. Trên thực tế, không hiếm những cuốn tản văn đã làm chật và chướng giá sách bởi sự xông xáo quá đà của giới xuất bản. Xin nói ngay rằng, với tôi, việc đọc những tản văn chỉ quanh quẩn ở nhớ nhung kỉ niệm hoặc lật trang nào cũng vấp phải vài màn than nghèo kể khổ và được kịch tính hóa bằng cách đổ lỗi cho số phận là việc bất đắc dĩ. Thông thường tôi và tôi cũng nghĩ nhiều độc giả cũng sẽ kín đáo thở dài, đẩy chúng sang một bên. Tản văn, vì bị coi là thức quà ăn nhanh, cũng rặt bóng dáng nhiều đầu bếp vụng về.

            Muốn nâng tản văn như là một lao động thể loại, theo tôi, vẫn cứ phải kí kết với những cây bút thuần thục kinh nghiệm. Ở đó, một tản văn hay bao giờ cũng nảy lên một giọng điệu, lớp ngôn ngữ riêng, một ý tưởng và chủ kiến cá nhân, một quan sát và tái hiện độc đáo. Một tản văn hay sẽ biết ra đòn hấp dẫn và dừng lại đúng lúc, khi người đọc đến lúc phải đón con, phải tranh thủ làm ca ba, phải gặp gỡ và kí kết hoặc nhọc nhằn hơn, phải nuốt trôi những tin tức thời sự nhàm chán. Tôi thuộc dạng chuồn sớm nếu bắt gặp những mớ bùng nhùng tâm tư ơi hời không biết từ đâu mà đổ ra vô tội vạ của người viết.

            Tạm dừng lại chốc lát ở những tác giả có sách tản văn bán chạy để lẩy ra những ngón nghề viết lách của họ. Không ai át được Nguyễn Việt Hà trong cái giọng điệu hài hước, đùa giễu tinh tế, trong cái cách nhà văn chủ ý đảo trật tự từ (thường tính từ đứng trước danh từ), hay khả năng tạo tích mới dựa trên tích cũ và phóng đại những kết luận. Tản văn Nguyễn Việt Hà tái lặp chiêu trò dụng từ điển, dụng các điển phạm văn chương và hiện đại hóa nó qua các so sánh tạt ngay mới mẻ trong cái nhìn hôm nay. Một sự nhất quán đến kì tài ở tản văn Nguyễn Việt Hà, từ Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của đàn ông, Đàn bà uống rượu đến Con giai phố cổ, là trước sau đều xem đi lật lại muôn vẻ bản sắc của hai giới đàn ông- đàn bà, khởi sinh của mọi sự, trong một đời sống đô thị tưởng chừng rắc rối, phức tạp. Dĩ nhiên, thái độ nhất quán đó không chỉ được tỉa ra từ kinh nghiệm cá nhân mà còn phải được xây từ vốn tri thức sách vở nhất định. Nguyễn Việt Hà đọc sách để đẻ ra sách, rất khác với một số cây bút trẻ hơn, viết tản văn là để khoe sách mình đọc, tuy hồn nhiên nhưng kém tỉnh táo vì đã không giả định rằng luôn có người đọc thông minh. Ở trường hợp Nguyễn Trương Quý, tuy cũng dựa vào tư liệu để khảo cứu nhưng tản văn của anh không sa đà kiến thức mà nghiêng về thông tin mới, bình luận dí dỏm như ở Xe máy tiếu ngạo hay Còn ai hát về Hà Nội. Những cuốn tản văn khác của anh, Hà Nội là Hà Nội, Ăn phở rất khó thấy ngon và mới đây nhất, Mỗi góc phố một người đang sống đuổi theo khám phá Hà Nội, không phải để ném những viên sỏi vào đề tài đã chật bóng tiền nhân, mà để tìm thêm những vòng sóng mang dư vị mới. Ở phương Nam, Nguyễn Ngọc Tư luôn chứng tỏ mình là người gây khó cho độc giả nếu muốn nhớ hết số lượng tản văn của chị. Cảnh sắc và đời sống sông nước miền Tây ăn lẹm vào từng câu chuyện, với ngôn ngữ và nhân vật được địa phương hóa cao độ. Tôi cũng thấy trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư một thứ chủ nghĩa cảm thương mà nếu tiết chế được, nó đánh động nhân tâm, còn lạm dụng quá, nó như một thứ tráng miệng ngậy mùi. Là thương hiệu của văn đàn và là nhà văn kiểu Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư chắc không thể hãm lại ở thể tản văn đang ăn nên làm ra của chị. Phan Thị Vàng Anh, ngược lại, tản văn tuy không ít nhưng phần lớn đều viết ra để lạm bàn thế sự, thậm chí là “gây sự”. Duy trì nhãn quan sắc sảo trong phân tích, chất vấn, bình luận muôn mặt đời sống nhân sinh thường ngày khiến tản văn của chị khá gần tính cách trực chiến, tiểu phẩm báo chí. Người đọc nhớ tản văn Phan Thị Vàng Anh là nhớ những mảng miếng bắt mạch, chẩn bệnh vừa tức tốc vừa chính xác các trạng huống nhếch nhác, dớ dẩn và phi lí của xã hội mà ta đang sống.

            Nói tản văn là phi hư cấu một phần vì mức độ khảo cứu được tán ra trong đó. Nhờ thao tác khảo cứu, nhiều tản văn trở thoát khỏi sự dùng dằng quá lâu trong hồi ức, tâm tình cá nhân để trình hiện những hiểu biết, mô tả khách quan về đối tượng quan tâm. Phẩm chất này đòi hỏi người viết tự mình tiến thêm một bước trong việc lựa chọn đề tài, nội dung mà bản thân am tường nhất. Tản văn không nên là con quay búa xua mùa nào thức ấy mà là những phi tiêu cắm sâu vào vốn văn hóa, tri thức đang tích lũy. Theo chiều hướng đó, nhiều tản văn có thể là những mô tả dân tộc chí sơ lược như Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm của Y Phương khi ông, một người trong cuộc, đã mô tả, diễn giải rõ hơn các phong tục, văn hóa Tày và từ đó, trao tặng cơ hội thông hiểu tộc người này cho độc giả. Khả năng mô tả, khảo cứu Hà Nội của Nguyễn Ngọc Tiến cũng là một dạng lập hồ sơ văn hóa, lịch sử đáng lưu tâm. Thậm chí, với Bát phố, Nguyễn Bảo Sinh còn lược thuật những “lịch sử nhỏ” về Hà Nội mà giới sử quan phương thường bỏ qua. Đến đây, tản văn đã chứng thực là một thể loại khó viết chứ không phải là cuốn lịch để ghi vội vài dòng tản mạn tùy thời tiết tâm trạng. Khi viết tản văn với tâm thế và đòi hỏi của một người khảo cứu, nghiên cứu, thì những lúc cần phải “răn đời”, giáo huấn, giọng điệu cũng trở nên thủ thỉ, tâm tình, kiểu chuyện trò như Cao Huy Thuần đã lịch lãm thể hiện.

            Ngược lại với đòi hỏi trên, những tản văn chỉ đáp ứng được điều kiện “hãy viết nhanh hơn nữa” của báo chí sẽ bị lãng quên chóng vánh. Càng đánh nhanh thì nguy cơ mất hút càng lớn. Như tiểu thuyết hay truyện ngắn, tản văn không hiếm những cây bút trắng tay hết sức lãng xẹt. Với một thời đoạn văn chương chẳng bảo hiểm điều gì ngoài sự đỏng đảnh của chính nó thì cao trào tản văn hôm nay rất có thể sẽ lắng xuống khi độc giả đã chai dần các món đặc sắc còn các cây bút tản văn có nghề thì dần “gác kiếm”, các “sao mai” mọc nhanh không kiểm soát. Một thể loại gặp thời không có nghĩa là trường thọ. Với tản văn như chúng ta đang thấy, lại càng như thế.

[1], 2: Nguyễn Việt Hà (2013), Con giai phố cổ, NXB Trẻ, tr.72-76 & tr.254

Advertisements

5 responses to “Thời của tản văn

    • Theo như chỗ MAT biết thì Tuấn Khanh thường xuyên viết tản văn đăng trên blog và báo giấy mà chưa xuất bản thành tập (?) tại thời điểm viết bài này. Các tập tản văn nhắc đến trong bài đều đã xuất bản. Với MAT, các bài viết của TK thiên về nghị luận xã hội hơn.

      • Thầy Chu Sơn gọi các bài viết của TK là tạp văn (với cùng ý: nghị luận xã hội). MAT đánh giá như thế nào về tản văn TK?

      • TK sắc sảo, nhiều ưu tư, mang dáng dấp của một tinh thần dấn thân. Nhưng trong thời điểm này, các tiếng nói phản biện/phản tỉnh xã hội không phải lúc nào cũng trở thành cẩm nang cho tất cả.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s