Những cạnh khía của lịch sử văn học


Những cạnh khía của lịch sử văn học tập hợp một số tiểu luận viết về lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX. Lịch sử văn học thế kỷ XX, hay lịch sử văn học Việt Nam hiện đại [hóa] là một khái niệm tương đối, không hoàn toàn ăn khớp với thời gian biên niên. Bởi lẽ, buộc phải chọn một mốc biên niên, một cách tương đối, nó bắt nguồn từ năm 1862, khi thực dân Pháp trực tiếp cai trị ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, tạo ra sự thay đổi cấu trúc của xã hội Việt Nam cổ truyền, và hiện nay, năm 2015 này, vẫn còn tiếp diễn. Đó là thế kỷ mở ra một thời đại Mới cho văn học Việt Nam từ trung đại sang hiện đại, từ khu vực ra thế giới, từ văn minh nông nghiệp đến văn minh công nghiệp, thậm chí, văn minh tin học.

Tuy vậy, tính chất bản lề, và do đó, đầy năng động của lịch sử văn học thế kỷ XX còn chưa được nhận thức đầy đủ. Ngược lại, càng gần về cuối thế kỷ thì xu hướng nhất thể hóa mọi cạnh khía thành một cái nhìn chính thống và chính thức càng trở nên mạnh mẽ. Hơn nữa, lịch sử văn học này phần lớn được nghiên cứu theo hai chiều kích đối lập nhau và, vì vậy, gây tổn hại cho chính bản thân văn học. Một mặt, lịch sử văn học được/bị coi là một bộ phận của lịch sử chung, còn phụ thuộc vào lịch sử chung, bỏ qua tính tự trị của văn học và sự vận động nội tại của nó. Mặt khác, văn học lại tự giam mình ở văn học, như người tự túm tóc mình bước qua chỗ lội, nên nghiên cứu văn học nhanh chóng rơi vào lối nghiên cứu từ chương truyền thống.

            Để thoát khỏi tình trạng trên, lịch sử văn học thế kỷ XX, có lẽ, cần phải được trả lại tình trạng đa dạng ban đầu và cũng là thực chất của nó. Mỗi văn học theo một thời đoạn lịch sử nào đó, theo một không gian địa – văn hóa, địa – chính trị nào đó, theo một hệ ý thức nào đó cần phải được coi là những lịch sử riêng biệt, hoặc những lịch sử/ câu chuyện nhỏ. Tuy nhiên, những tiểu lịch sử này vừa tồn tại độc lập, vừa hợp thành một chỉnh thể văn học chung như là một hệ thống mở. Cái kết nối chúng thành một tổng thể chính là sự vận động tự thân, theo các qui luật nội tại của hướng hiện đại hóa và thế giới hóa.

            Đã có một thế kỷ nhận biết lịch sử văn học [ở đây, nhấn mạnh vào phần hiện đại], nhưng có thể nói, vẫn chưa trình ra được một bức tranh tương đối để từ đó, có thể phác dựng lên được diện mạo của lịch sử văn học sống động trong một thế kỷ đầy biến động. Đầu tiên, là sự thiếu sót to lớn về các nỗ lực phục dựng tư liệu khi người ta miêu tả lịch sử văn học mà lại không thực sự bao quát được các vùng tư liệu còn để trống. Sự trống vắng là đáng kể, đặc biệt trầm trọng thì rơi vào các tác giả, các khu vực văn học bị coi là “có vấn đề” trải dài suốt thế kỷ XX. Cái để trống, chưa được biết ấy, nhiều lúc lại chứa đựng những khúc quành quan trọng thuộc mắt xích nào đó mang tính quyết định trong lịch sử văn học dân tộc. Vấn nạn tư liệu là vấn nạn bản thể trong toàn thể căn não trí thức Việt Nam. Thêm sự đánh chặn của các va chạm ý thức hệ, khiến lịch sử văn học phải đi đường quành, thường xuyên né tránh, bóp méo, và tệ hơn là xuyên tạc các hiện tượng, sự kiện văn học vốn khác với hệ ý thức của tác giả viết lịch sử. Hiếm hoi lắm, nếu có người vượt qua được vấn nạn ý hệ, thì người viết lịch sử văn học lại dễ dàng rơi vào bẫy gài của quán tính Việt tâm luận – một “di sản” của chủ nghĩa dân tộc luôn đè nặng lên các khảo tả và phân tích văn học sử, khiến lịch sử văn học Việt Nam đa tộc người được hình dung như là chỉ của người Việt. Di sản của chủ nghĩa địa phương cũng tham gia vào quá trình tạo trở ngại trên đường tái dựng một lịch sử văn học. Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, có thể nói, chứa đựng sự giằng xé của các tình thế mang quán tính của chủ nghĩa địa phương, mà hai quán tính đối cực Bắc bộ trung tâm luận và Nam bộ trung tâm luận là hai “chiến lược diễn ngôn” thường xuyên đối đầu. Nghĩa là, lịch sử văn học dân tộc dù là tổng thể rộng lớn xuyên suốt từ Bắc, Trung đến Nam, và cả phần Việt Nam ở nước ngoài, nhưng nó lại thường được miêu tả lệch hẳn theo cán cân rơi về miền Bắc, lấy Hà Nội làm ánh sáng, hay trái lại, dù không nổi bật bằng nhưng cũng không kém phần gay gắt là chiến lược diễn giải văn học Việt Nam hiện đại được khởi sinh từ Nam Bộ, mà Sài Gòn là đất hứa đã dựng nên diện mạo. Cho dù, các tác giả thường nói đến tâm thế “siêu vượt” lên chủ nghĩa địa phương văn học/hóa, một lối “dấu đầu” trong cách viết, nhưng diễn giải của họ, rõ ràng không che dấu nổi điều đó, làm “hở đuôi” nhận thức!

            Tóm lại, chẳng có gì là an tâm khi nhìn về phần lịch sử văn học Việt Nam hiện đại đã được tạo dựng, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, lịch sử văn học dân tộc đã có qui mô quốc tế vượt ra ngoài sự trói buộc lãnh thổ. Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, vì thế, vẫn còn là một thực thể đang-là, cần phải nỗ lực nắm bắt, nỗ lực hiểu để có thể đến gần hơn với di sản văn học dân tộc.

C360_2016-02-03-22-59-27-792

Những cạnh khía của lịch sử văn học là những nghiên cứu hiện hữu trong tình thế không an tâm về hiện trạng lịch sử văn học đã phô bày. Và vì thế, ở quyển sách này chứa đựng những nỗ lực cá nhân, nhưng chung một mục đích là muốn nắm bắt gần hơn với các bản chất của/thuộc lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, mà vì tính chất rộng lớn và phức tạp của đối tượng, chỉ cho phép nỗ lực hiểu, nắm bắt vấn đề ở những cạnh khía. Sự trải nghiệm lí thuyết, lí thuyết hệ hình đã du hành như thế nào ở một nhà nghiên cứu. Tự sự về hình thành lí thuyết là cần thiết để hiểu rằng lí thuyết luôn manh tính linh động giữa cái quốc tế và cái bản địa, lưu giữ những dấu ấn cá nhân hóa trong xử lý đối tượng văn học ở một tác giả đã có những đóng góp cho phép người đọc hiểu về lịch sử chung từ trải nghiệm riêng. Sự nhận thức những giá trị bị quên lãng hay chưa được biết đến ở các trường hợp Khái Hưng, Nhượng Tống hay Lê Tuyên đặt vấn đề của sự tái phát hiện những khoảng trống tư liệu khi chính những điểm trống ấy được biết đến không phải để tô điểm cho một bức tranh đã định dạng, mà hơn thế, thách thức chính bảng tổng sắp “những con voi trắng” trong lịch sử văn học. Sự linh động, chiến lược của các các cuộc tranh luận những năm 34 – 36 của thế kỷ XX, liên quan đến sự hình thành ý thức về “văn chương” thay vì “văn hóa” chung chung đã khai sinh ra văn học hiện đại, một xu thế của sự hình thành trường văn học Việt Nam. Xuôi dòng lịch sử, phần văn học hiện đại, cái thực tại còn diễn tiến này, chứa những phức tạp mà một quan sát về sự hình thành khuynh hướng trò chơi trong thơ Việt Nam đương đại cho phép nắm bắt khuynh hướng chính trị – thẩm mỹ ở những hiện tượng thơ rất phức tạp của phần lịch sử văn học đương đại. Một hướng khác, quá trình văn học Việt Nam sau Đổi mới được tái dựng lại như là sự vượt thoát khỏi những ràng buộc chính trị để tìm thấy sự tự trị, nhưng sau đó, lại tự/bị quay lại chịu sự qui chiếu của văn hóa chính trị. Và xoay quanh “con voi trắng” Nguyễn Huy Thiệp của văn học đương đại, có tới hai chiến lược diễn giải cùng đọc lại hiện tượng này trong bối cảnh văn hóa – xã hội rộng lớn Việt Nam từ Đổi mới đến Hậu đổi mới. Mở rộng các không gian diễn giải văn học, lấy văn học như một khởi điểm để tiến đến các nhận định mang tính chất Việt [Nam] học, đó cũng là ý đồ chung của các nghiên cứu được công bố trong chương trình Hiểu Việt Nam. Những nghiên cứu này, là khởi đầu của những nỗ lực nhận thức lại lịch sử văn học, hiển nhiên nó kêu gọi ở bạn đọc sự đối thoại. Và điều quan trọng nhất mà Những cạnh khía của lịch sử văn học muốn gửi gắm, như thông điệp tiền tiêu, là lịch sử văn học Việt Nam nói chung, và lịch sử văn học Việt Nam hiện đại nói riêng, thực sự, cần tái nhận thức tổng thể.

*

*        *

Bây giờ, thì mời bạn cùng song hành với các diễn giải!

 Hiểu Việt Nam

2 responses to “Những cạnh khía của lịch sử văn học

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s