TIẾNG NÓI BÌNH DÂN


            Ngày 17 tháng 2 năm 1934, Nguyễn Văn Huyên, người về sau sẽ trở thành một học giả lớn, lúc bấy giờ mới 26 tuổi, đã bảo vệ luận án tiến sĩ ở Đại học Sorbonne, xuất sắc đến mức được coi là một sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử ngôi trường danh tiếng ấy. Rất nhanh chóng, luận án của chàng trai Hà Nội được công bố thành sách, Hát đối đáp của nam nữ thanh niên ở Việt Nam, và giới khoa học châu Âu từ đây đã có thêm một tham khảo hữu ích khi tìm biết về xứ sở mà tri nhận chung của họ vẫn đang hời hợt. Thi sĩ Paul Valéry, thành viên Viện Hàn lâm Pháp, vội biên thư cho tác giả công trình, biểu lộ niềm vui được đọc những điều mà ông tin là đúng với mọi thơ ca nhưng ở Pháp lại rất ít biết hoặc hiểu thấu.

            Thơ ca nhắc ở đây chính là những bài hát đối đáp trong các lễ hội định kỳ của người bình dân. Nguyễn Văn Huyên chọn Lim, nơi luôn là một trung tâm hội hè lớn, để quan sát, ghi nhận và phân tích khả năng ứng đối, điệu hát, các nhóm từ, câu thơ và cả những tín ngưỡng, phong tục liên quan trong hát đối của từng nhóm trai gái đến từ làng này tổng kia. Ngày tôi mới đặt chân đất Bắc, tôi cũng đã theo đám bạn tìm về hội Lim, dẫu rất bối rối vì anh hai chị hai vừa hát vừa khéo léo ngửa nón trên mạn thuyền, ngụ ý hãy cụ thể hóa tấm lòng tri âm vào đấy, nhưng tôi vẫn không tài nào quên cảm giác được khai tâm về tình ái. Những bài hát đối đặc biệt xoay quanh chủ đề tình yêu bao giờ cũng đầy khiêu khích, thực sự tự do, tưởng như không còn bị vướng bận gì vào mớ giáo lý đạo đức nho gia mà vùng đất này đương nhiên đã chịu ảnh hưởng. Tự trong ý nghĩ non nớt của mình, tôi chợt hiểu vì sao Nguyễn Văn Huyên say mê hội hát đối. Có lẽ, bởi nó là một truyền thống cũ còn sống động, là một dấu chỉ để nhận thấy tâm hồn Việt chưa bao giờ trùng khít hoàn toàn với quá trình Hán hóa vốn dai dẳng, khốc liệt và nhiều hệ lụy. Chính khi hát đối, những người lao động chân tay, dân cày, đám thợ thủ công hay nhóm người buôn bán nhỏ đã hồn nhiên, chân chất và mạnh mẽ phá vỡ rào ngăn cự li trai gái từng rất khắc nghiệt mà tầng lớp quí tộc học hành đặt ra. Trên cánh đồng chưa hết rạ rơm giữa tiết xuân đương rộn rã, tôi mường tượng lại, từng đôi nam nữ sẽ hát cho tới khi phân định thắng thua. Các cô thì đầy vẻ thách thức, ẩn giấu sự chủ động dưới vành nón lá cọ; các chàng trai thì hơi nhút nhát nhưng lại giỏi ứng khẩu, linh hoạt chuyển đổi chủ đề làm khó đối phương. Những chàng trai thắng cuộc sẽ mang tiếng thơm về làng, được gia đình người con gái thua cuộc mời sang nhà. Nếu người thua là phụ nữ đã có chồng, thì chồng nàng rất muốn tiếp người thắng cuộc, vì trước mắt mình là một thi sĩ đích thực cơ mà! Nào ai đương trẻ thanh xuân lại không muốn một lần tham gia hát đối, để mãi mãi hò hẹn, thề nguyền và cả những thở than nếu tình yêu cách trở. Tôi giận mình vì chẳng tài nào thốt nổi một câu tình tứ trong hội Lim giờ đây đã nhiều nét pha phôi.

            Vẫn về những câu ca âm điệu quê mùa, từ rất sớm, năm 1929, Phạm Quỳnh đã không ngần ngại coi đó sự phóng chiếu tâm thái, tính cách dân tộc. Bài viết bằng tiếng Pháp của ông, Người nông dân Bắc kỳ qua tiếng nói bình dân, xứng đáng là một tuyệt bút, đủ sức mời gọi giới trí thức bấy giờ xem lại vốn tài sản ngôn từ nước Nam đang có. Bằng cách nhìn sâu vào nó, chúng ta biết được chúng ta là ai, như thế nào. Là người lao động thích trật tự và thanh bình, tôn trọng quyền lực của trần thế lẫn siêu nhiên; là những tâm hồn ưa vui vẻ, hóm hỉnh, nhạo đời, thiết thực và sẵn sàng tầm thường. Trong khó khăn và triền miên lo toan cuộc sống no đủ, chúng ta vẫn mơ mộng, muốn vươn tới hạnh phúc và công bằng. Tiếng nói bình dân, như vậy, là thứ hộ chiếu để nước Nam trình diện với người Pháp, là tư liệu để gợi ý họ nên là anh em thay vì kẻ thù của nhau. Khoan hãy bàn đúng sai, điều quan trọng ở đây chính là nhu cầu đối thoại văn hóa trong thời điểm kẻ xâm lược vẫn tự đắc về nền văn minh, sứ mệnh khai hóa của mình. Nếu không cất tiếng nói tri thức bản địa, không chấp nhận tính chất dị biệt, sẽ thật khó có được sự cộng sinh văn hóa khi mà cái nhìn phân chia, đối lập vẫn còn đeo bám. Đã có bao nhiêu bất hòa, xung đột cho đến tận hôm nay chỉ vì các cơ hội thông hiểu căn tính của mỗi cá nhân/quốc gia bị bỏ lỡ.

phu_nu_viet_nam_6

            Tôi không dám chắc trong hành trang du học trời Tây, trong tư thế háo hức trở thành công dân toàn cầu của nhiều bạn trẻ hôm nay, mấy ai thuộc nằm lòng vài câu phong dao tục ngữ. Nhiều nhà văn lớn vẫn coi chúng là một kho tàng kinh nghiệm đời sống và kinh nghiệm tu từ. Dĩ nhiên, mọi kinh nghiệm cho dù đã được đúc kết, không nhất thiết phải là của cải giắt lưng. Nhưng, như đứa trẻ đang cần bạn đồng hành, đang cần thầy chỉ bảo, tôi chọn cho mình thú ngược xuôi trong những ngõ ngách ngôn từ thôn quê bình dị. Khi ở đấy, tôi mới trở nên giàu có, khỏe khoắn cảm nhận, tư duy về bản thân, về thế giới. Nhưng cũng đâu chỉ mình tôi, giới Việt học quốc tế cũng đang muốn vỡ lẽ thêm về cảnh sắc thổ nhưỡng, tính khí quê hương, bà con họ hàng tôi. Họ muốn những đồng tiền đầu tư của chính phủ họ không bị mất hút trong rừng rậm nhiệt đới những nghi thức, tập quán, tập tính hay dở lẫn lộn bày chật nơi đây. Vậy mà, hình như cũng lâu rồi, tôi cắp sách đến trường chỉ nghe nào lí thuyết nọ trào lưu kia, các bạn tôi thì nhăm nhăm trích chương tập cú. Nghe rất sướng tai nhưng không thỏa mãn chờ đợi của tôi rằng sẽ có những thông hiểu thực sự về Việt Nam. Không chừng chính các học giả ngoại quốc mới đang là những người chủ yếu diễn giải Việt Nam trong phạm vi học thuật khoa học xã hội nhân văn trên thế giới. Điều này nếu chẳng thể cải thiện sớm thì chúng ta tự nhiên lép vế khi tiếp biến sâu rộng hơn, ngoài kinh tế, còn là tư tưởng, văn hóa. Tôi tự hào nhưng không quá an tâm về thực tế những Pavilion Việt Nam bao năm qua vẫn luôn là mây tre đan, thủ công mĩ nghệ, nước mắm, thổ cẩm, tranh sơn mài… Đã đành vật phẩm cũng là bản sắc song rất khó hi vọng nó hiển thị triết thuyết gì, xuất khẩu một quan điểm gì gây tiếng vang như cuốn sách của Nguyễn Văn Huyên mấy chục năm về trước.

            Năm 1936, cũng tại Paris, Người nông dân châu thổ Bắc kỳ của Pierre Gourou ra mắt độc giả, chứng thực Pháp quốc không đến nước ta với chỉ duy nhất súng ống. Công trình địa lí nhân văn kinh điển này đã khiến Bắc bộ trở thành từ khóa của biết bao thân danh học hành. Thời điểm giao thoa Đông-Tây đầu thế kỉ XX có một tinh thần hiếu tri nghiêm ngắn, bất chấp các rào cản lịch sử, rất đáng để chúng ta noi theo. Tâm lí vội vã, cuống cuồng bắt chước, rập khuôn mọi trào lưu hiện giờ đều không phải là kết quả của nỗ lực hiếu tri và kiến tạo giá trị. U tôi có lần kể tôi nghe chuyện sứ thần Quách Hữu Minh, vào năm 1502, nhân chuyến đi sứ, đã lén mua chiếc áo Long Cổn là hàng cấm của nhà Minh. Nó đã được vua Lê “tân chế” như là cách để chứng tỏ Đại Việt không kém thua điển chương Trung Hoa. Thời đại tôi đang sống thì mọi hàng hóa đều được bảo chứng, bản quyền hóa, chẳng dễ a dua theo kiểu mốt gì, nhất là trong việc đi tới hành trình hiện đại, cách tân của riêng mình. Tôi biết chắc u tôi chỉ nôm na vài ba con chữ, chuyện xưa tích cũ lờ mờ. Nhưng tôi vẫn lắng nghe vì thấy lòng mình nhẹ nhõm, yên tĩnh như vạt nắng sớm mai vẫn mùa mùa tháng tháng đậu trước hiên nhà. Kiên tâm gìn giữ những thanh khiết nhỏ nhoi cũng là một công quả trong thời tứ bề hội nhập.  

            Hội Lim lâu rồi tôi không trở lại. Xứ Bắc cũng đã đổi thay. Hội hát đối định kỳ hiếm khi đúng nghĩa. Tôi cầm lòng ngửa mặt tự vấn trời mây…

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s