Tạ Chí Đại Trường, sử [tư] gia


            Tạ Chí Đại Trường của Nhị Linh đáng được coi một công đọc nghiêm túc, thẳng thắn và phát hiện, về những gì mà sử gia này để lại. Bài viết đó, dung lượng không phải là vấn đề để mà phải thốt lên rằng rất đã vì dài. Vấn đề nằm trong những đột ngột rẽ ngoặt, những chỗ quyết liệt dừng lại, những cú trích, những pha chắp nối, và đương nhiên, những dốc sức nhận định mà không phải lúc nào ta cũng biết tuốt. Nhưng luận điểm của Daub thông qua Kierkegaard mà Nhị Linh đặt vào Tạ Chí, “nhà tiên tri bước đi giật lùi”, ít nhất sẽ cực kì kích thích những ai đọc Tạ Chí, hơn hết, những ai tự hiểu rằng, viết về Tạ Chí dù có thể như một kiểu ai điếu đi chăng nữa, cũng không bao giờ giản đơn là hành động tri nhận một con người.

            Vài năm trở lại đây, những fan hâm mộ Tạ Chí không ngừng khoe rằng sách của Tạ Chí đã gối đầu giường và, hễ có dịp, cũng nhắc đến Tạ Chí như một danh thiếp vào cửa các club học thuật. Tôi có thể đau đầu như búa bổ trước những bài giảng thoăn thoắt về sử Việt, tôn giáo-tín ngưỡng Việt, những tranh cãi về cặp đôi hoàn cảnh Huệ – Ánh… nhưng tôi hoàn toàn tự nguyện lắng nghe nếu ai đó chỉ dẫn Tạ Chí. Tôi có thể ngạc nhiên kinh người vì không thấy một ai trong nơi chốn dạy dỗ của tôi, tin mừng rằng vì Tạ Chí mà họ xem lại mấy giáo trình bỏ túi về sử hoặc văn hóa học. Nhưng tôi biết thà như thế còn duyên thầm hơn việc phải chia sẻ với họ về một luận sử nào đó của Tạ Chí.

            Tôi hình dung Tạ Chí đã thông báo trước chuyện gì ông nói. Lịch sử nội chiến… thì nội chiến là story mà ông thuật, sắp xếp, bình luận và là plot mà ai nhìn thấy thế kỉ XX có gì hay đều có thể lắp vào. Đã theo đuổi Việt hậu bán XVIII coi như nắm chắc những ngoắt ngoéo lịch sử của mọi thứ. Những bài dã sử Việt thì dã sử là trú sở của sử tư nhân, nơi mà sử quan phương hiếm khi ngó ngàng đến, cũng là địa thế hóc hiểm khiến những bộ óc phẳng lặng khó gây phiền nhiễu. Sử Việt, đọc vài quyển thì đọc là khuyến cáo và vài quyển là khuyến nghị. Nhiều người thấy Tạ Chí chỉ dùng vài quyển thôi nhưng cách đọc của ông thì không cùng cách với các sử gia chuyên dùng sử liệu lấn át, bắt nạt. Một thoáng nhìn về sử học Việt Nam quốc nội thì quốc nội là một rừng rậm nhiệt đới những đường hướng mà bất kì ai ấm ớ đến đâu cũng khó lạc đường. Chỉ Tạ Chí là không cùng đường. Tương tự, Thần, Người và đất Việt thì thần đảm đương một nan đề cốt tử…Thần, tại sao không?! Sơ thảo bài sử khác chẳng biết khi nào in được ấy, cũng rành rọt ngay từ đầu, khác, nghĩa là đã mang lấy vào thân sự bất thuận.

            Tạ Chí đã thông báo, xuất hiện trước. Chẳng hạn, ta hiểu Việt XVIII rối loạn còn tái lặp cho thời đoạn về sau. Những tranh đoạt, thanh toán, phân rã, vinh quang, thất bại của XVIII đủ là điểm cộng cho một quá khứ trước đó nhìn chung tản mác, vụn vặt. Những chiều kích quá khổ, nhìn theo góc nào cũng khó vừa thời đại, khó lọt qua các khuôn mẫu ý hệ ấm ớ giăng mắc khắp nơi, của XVIII, sẽ gợi ý cho một big bang thế hệ đầu XX muốn tạo dựng vị trí. Người nhìn thấy, bình luận được những chiều kích ấy hẳn phải bản lĩnh, trí tuệ phi phàm. Tôi thật không hiểu vì sao giờ đây các văn nhân cứ chúi mũi vào một vài thân danh/giai đoạn lịch sử nói chung xoàng xĩnh, và rồi cứ sốt ruột túm tóc giật đại vài chuyện hết sức tào lao. Mấy cái scene chém giết hoặc trữ tình hơn, là chinh phụ may áo cho chinh phu, mẫu tử đoạn trường, huynh đệ đối đầu, nghịch thần dối trên lừa dưới… cũng vầy vậy thôi. Tiểu thuyết/truyện giả lịch sử của văn đàn hồi này còn thêm éo le tưởng tượng, thân phận với bổn phận, trách nhiệm với danh dự,…làm như chỉ có bịa đặt mới sâu sắc. Nội chiến của Tạ Chí trình cho mọi gắng gượng viết tiểu thuyết lịch sử một bẽ mặt. Không kể Nguyễn Duy Chính có thêm những bổ khuyết thâm hậu, người nhìn thấy nội chiến như cách của Tạ Chí, xét riêng văn chương, có thể là Nguyễn Huy Thiệp. Ông Thiệp chọn mốc 1802 không phải vô lí và cố tình xúc phạm truyền thống như người ta vẫn đổ tội. Big bang nào chẳng có một khai sinh.

            Khi Thần, Người và đất Việt được bái phục, Tạ Chí nói rõ vì sao ông phải viết: “Bổn phận của sử gia là phải đem thần trở lại thành người, dựng lại thần cho thành dáng người”. Nhưng ta hiểu, những tạo tác thần linh không phải vô cớ sôi nổi trong các hội kín bây giờ. Ai từng đọc Lê-nin toàn tập thì sẽ nhớ ngọn hải đăng vĩ đại của nhân dân lao động này đã chiếu rọi một cách gắt gỏng vào ý niệm về thần và tạo thần của văn hào A. M. Gorki. Vì có siết chặt tay và chúc đồng chí Gorki mạnh khỏe (bản tiếng Việt, 1980, T.48, tr.299-302), nhiều đồng chí kiên trung và khôn ngoan sẽ nghe lời. Thần linh vắng bóng một thời gian dài cho đến khi nó trở nên ồ ạt và thiếu kiểm soát. Người ta sẽ không hiểu nội chiến nếu không kịp đứng trong một địa vực của thần linh như dịp quốc giỗ vừa rồi; đến ngay cả tài giữ trật tự kỉ cương của Nguyễn Huệ đối với đội quân tập hợp vội vàng cũng khó giải thích trọn vẹn nếu chưa biết dùng cuốc thuổng gậy gộc là sở trường của bất kì phong trào nào, chẳng riêng nông dân. Các nhà thời sự học thế kỉ XXI quên mất tính chất tập đoàn, phe phái chẳng bao giờ suôn ngòi lọt ngạch trong bất cứ kiểu quyền lực nào, nên cứ đâm đầu bình luận vì sao vị thần mới ấy lại xuất hiện. Để thần xuất hiện thì bao giờ cũng có một đội quân copywriter ngang ngửa mưu sĩ. Mấy nốt kịch tính cho các trí giả canh cánh chẳng qua là chỗ ngập ngừng, lèo lái của đám bút lách chi thần. Phe nào thắng cũng đều có trật tự thần của nó, và tự họ sẽ chứng minh, chẳng cần đến lập hồ sơ thuyết phục.

            Phe thì nghe không hay bằng các trung tâm quyền lực. Tạ Chí có phác rõ các trung tâm này, theo tính cách diện địa. Giờ có ai thầm thì về Mường-Thái Thanh Nghệ, cụm Thuận Quảng- Bình Định, cụm Đồng Nai-Gia Định với những Tây tiến, Nam tiến, đồng bằng – rừng núi thì sự thể đã được nhìn nhận. Các trung tâm ấy phân định thế nào thì cộng thêm cái bản đồ, mấy mũi tên, một vài đường mờ giới tuyến là có thể tạm gác mấy ông đồ Tây lại. Trong khi còn thời gian và nếu đã cất công tiếp nối cái nhìn của Tạ Chí, tôi cũng chẳng thiết tha gì mọi ồn ào chia chác cho một chỗ đứng, kì quái thay, cả trong nếp nghĩ của nhiều tài hoa chi quân tử.

            Tôi được học Hoàng Lê không như Tạ Chí dùng. Các case study nhà trường luôn muốn chia nội dung và nghệ thuật, như hai vế Nam – Bắc hà sẽ có lần nhất thống. Sự học kinh điển ấy giờ vẫn chưa hết quyến rũ nên Hoàng Lê vẫn cứ áo vải với cờ đào, có trận hành quân thần tốc, có thời thế bể dâu và lòng người dao động. Ngược lên một chút, Lĩnh Nam với Việt điện, cũng khó chạy thoát thi pháp. Giảng chuyện ma quái mà cứ thao thao bất tuyệt như em-xi chương trình performance lễ hội. Sử liệu của sử gia hôm nay chồng cao hơn núi, đọc sử liệu cứ như đi đếm đầu giặc, chẳng hiểu có cải thiện được phần nào nạn ngáp ngủ trong giờ công dân với tổ quốc không? Có khả năng tin sự hoang đường nhưng kém nhận chân sự thật thì mọi tin tức của giáo dục & thời đại đang chứng tỏ vô đối truyền kì , dễ hiểu là món ngon mỗi sáng. Chúng ta biết tỏng chúng ta thế nào, diễn vừa thì được, diễn quá thì dễ trở thành xưa nay chưa từng có.

            Tôi luôn hình dung Tạ Chí đã điểm mặt chỉ tên hai đối tượng: sử quan Nho và sử thần [bắc] Việt. Hai kiểu kẻ chép sử, ghi sử này mới đích thị đem đến nhiều cắc cớ cho sử học và trong khi nhiều sử gia hiện thời sống theo lịch sử thì Tạ Chí sống hiểu sử gia. Chỉ cần hiểu sử gia đang vì/bởi/do cái/điều/thứ gì khiến sử liệu của họ như thế thì Tạ Chí đã xong phần việc nhọc nhằn nhưng quyết định nhất. Phần còn lại và luôn luôn thắng thế, Tạ Chí sẽ viết, một lối viết đoạn tuyệt tất thảy phong cách đã từng có của sử quốc nội.

             Riêng điều này, thì nên im lặng thưởng thức.

24.4.2016, Tạ Chí Đại Trường (21.6.1938-24.3.2016)

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s