Nước 2030


 

            Nước 2030 sau khi chiếu ở LHP Berlin lần thứ 64 (2/2014) và LHP Busan (10/2014), lần đầu ra mắt khán giả Việt tại một phòng chiếu không thể khiêm tốn hơn ở rạp tháng Tám trong khuôn khổ LHP quốc tế Hà Nội lần 3. Dẫu vậy, đoàn làm phim, gồm đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh và diễn viên Quý Bình, Quỳnh Hoa vẫn được chào đón ấm áp và khi phim kết thúc, một vài khán giả đã nán ngồi lại, không phải vì tỏ ra lịch sự, mà vì thực tình muốn lắng nghe ông chia sẻ.

            Nước 2030 có lẽ là một tiêu đề đa nghĩa. Nếu 2030 dễ gợi nhắc năm tháng còn xa vời thì nước lại quá gần gũi. Và cả hai, một thành tố của sự sống và một dấu chỉ của thời gian, sẽ buộc chúng ta ngồi lại, tĩnh tâm để nghĩ ngợi về viễn cảnh trong phim rất có thể xẩy ra ngay tức thì. Chuyện phim mở đầu bằng một dự báo rằng, với đà nhiệt độ trái đất tăng như hiện nay thì đến 2030, khoảng nửa đất nông nghiệp của Nam bộ mà cụ thể là vùng ven Sài Gòn, sẽ chìm trong biển nước. Vào thời điểm 2030 ấy, Sáo (Quỳnh Hoa đóng) và Thi (Thạch Kim Long đóng), đôi vợ chồng đặc sệt quê kiểng buộc phải xoay xở sinh nhai trên không gian chiếc ca-nô, thứ duy nhất nối họ với thế giới bên ngoài và chở che họ trước mưa gió. Nước không thiếu nhưng oái oăm thay chỉ là nước mặn mà chúng, thật đáng sợ, phủ ập lấy mọi tấc đất trước đây còn hiện hữu. Những tấm biển quảng cáo bán đất, cho thuê đất trơ trọi mọc giữa biển nước như sự chế giễu, trêu ngươi chính đời sống giờ đây chỉ phó mặc hoàn toàn cho thế giới tôm cá nằm sâu dưới đáy thuyền. Trong khi đó, Đại Thanh, một công ty chuyên sản xuất rau sạch nhờ biến đổi gen, là hình ảnh thu nhỏ của con bạch tuộc trên mặt nước, nơi máy móc và công nghệ tiên tiến bày ra đầy quyền lực, quyết định sinh mạng người dân. Thi đã bị giết khi phát hiện việc làm gian dối của Đại Thanh. Thành, em trai Thi, vì muốn trả thù, cũng bị lao tù. Như thế, người dân, chứ không ai khác, là những cá thể đầu tiên mất dần khả năng kháng cự trước sự ăn dần của nước, thứ vật chất mà khi sinh ra họ đã thuộc về. Trên mặt nước mênh mông, sự sống và tàn lụi của họ không được nhòm ngó tới, càng không được bảo hiểm. Hiện thực đau đớn và bi đát ấy, sau bao nhiêu gắng gượng để vượt qua, vẫn là vết chàm bội nhiễm sâu thẳm trong các cung bậc kí ức, tình yêu, thù hận. Nước, vì tính chất bí ẩn của nó, dưới nhiều góc máy khác nhau, đã phơi mở không ngừng các hình ảnh sinh tồn và hủy diệt, hiền hòa và dữ dằn, đẹp và buồn… Trong ý nghĩa đó, nước trở thành một kiểu nhân vật rất riêng của bộ phim.

hinh_anh_nuoc_2030__20

                        Mùa len trâu, Nước 2030: câu chuyện vùng miền.

            Nhưng Nước 2030 không hoàn toàn là một ghi chép hiện thực thuần túy. Yếu tố viễn tưởng, chất hiện thực huyễn ảo (magic realism) được đạo diễn đan cài khiến bộ phim phá vỡ một khung thể loại cố định. Trong khi dự báo nước ngập là một giả thiết thì công nghệ trồng rau và hoạt động của nông trường nổi Đại Thanh lại khá lạ lẫm. Nhưng đáng chú ý hơn, bằng cách quay trong lòng nước, nơi thủy sinh và nhà cửa chung sống “như thường” lại mang đến ý niệm về sự kết thúc của thế giới. Rút cuộc, tất cả đều chìm dưới nước, kể cả các tòa nhà chọc trời, và “sự thật” này gây ra ảo giác tận thế đôi khi thật dễ đùa. Điều không được khôi hài cho lắm là khi nước rút, thân xác chúng sinh đều cô độc trên mặt đất hoang vu, một kết thúc có dáng dấp khởi nguyên. Tất nhiên phải nói rằng, cách hỗn dung đa thể loại (hình sự, lãng mạn, viễn tưởng) sẽ làm bộ phim khó tiêu ngốn nếu không muốn nói là kén khán giả. Cảm giác đạo diễn bị áp lực bởi yếu tố thị trường đã hiện rõ trong những pha thêm thắt tình ái rườm rà, mạch chuyện và cảnh phim bị tán mỏng để chứa một vài thông điệp xã hội. Và nếu những bộ áo bà ba nâu hơn, nhăn nhúm hơn chứ không mới nguyên cả đường chỉ, mượt như lụa thì chất dân dã, thô mộc sẽ đáng xem thêm đôi phần.

            Dù sao, quan trọng là đặc sắc phong cách Nguyễn Võ Nghiêm Minh từ Mùa len trâu, một lần nữa, được tái lặp trong Nước 2030. Những góc máy cao, toàn cảnh và tăng cường quay trong lòng nước khiến cảnh phim vừa đặc tả, vừa mơ hồ hóa đời sống Nam bộ. Khía vào sự cô đơn, nổi loạn trên sông nước và “tập tục” thủy táng của đám lưu dân nghèo khó, đạo diễn đã bóc tách, giữa thực và ảo, các lớp lang văn hóa vùng miền, các nhịp điệu phân li, tái hợp vốn bị khuất lấp tự xa xưa. Hơn cả một dự báo, Nước 2030 nhắc lại những thực tế mà chúng ta đang đánh mất.

Sau buổi chiếu, đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh chia sẻ rằng, ông hình dung mỗi phim là một thử thách, một tìm kiếm xử lí mà mình phải vượt qua. Ông cố gắng làm mới Nước 2030 bằng cách lược bớt yếu tố phong tục xứ sở để chạm đến những cảm thức chung của con người hôm nay về nước, về không gian sinh tồn. Cũng theo ông, tuy Nước 2030 được khán giả Đức khen ngợi, khán giả Hàn thích thú nhưng vẫn bị các nhà phát hành trong nước “chê” vì quá ít yếu tố thương mại. Và đó là lí do khiến bộ phim, cho đến lúc này, vẫn chưa được công chiếu rộng rãi.

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s