Phim ngắn Việt đương đại, vì đâu phải xem [2]


Trong lúc trăm nhà đua tiếng, với không hiếm ngẫu hứng, thì việc điểm mặt anh tài, lưu chiểu những tiếng nói ấn tượng là không dễ. Thiển nghĩ, phim ngắn, dù chấp nhận các đáp án khác nhau, từ hoạt hình, tài liệu hoặc phim truyện thì vẫn buộc người làm phim, trước hết, làm bằng ý thức thể loại. Nếu không xuất phát từ điểm cốt yếu này, thì dung lượng thời gian chỉ là tấm áo trời ơi đất hỡi vừa vặn trong cảm giác ngắn ngủn mà đánh mất tốc độ, năng lực truyền đạt của ý tưởng, câu chuyện trong đó. Bởi vậy, với cá nhân tôi, trong phần dưới đây của bài viết, sẽ bắt đầu từ hai hướng cho một nhu cầu sắp xếp danh mục ưng ý tạm thời và chưa thể nói là bao quát đầy đủ: dựa vào tiểu thể loại và dựa vào kiểu tính cách của bộ phim.

            Theo tiểu thể loại thì áp đảo và có sức hút hơn cả là dạng phim truyện chính kịch (drama) với tinh thần tìm kiếm một câu chuyện hư cấu được xây dựng bằng ngôn ngữ điện ảnh hướng vào diễn biến nội tâm nhân vật, tái hiện một tình huống có khả năng đem lại thông điệp cụ thể. Danh tính và lí do khiến tôi ấn tượng là: Tũn (Bùi Thọ Thịnh) – màu sắc dân dã và tín niệm dân gian; Cõi vui (Đặng Thái Huyền) – dí dỏm về đời thực và vai diễn; Những người đàn  bà (Cù Kim Chi) – cách hiểu về đàn bà xây tổ ấm; Chỉ một đô la (Nguyễn Mạnh Hà) – sắc sảo bởi tiếng cười giễu nhại, về Tây lẫn ta, trong tình huống quen thuộc của văn hóa du lịch; Đường về (Trần Quang Minh) – giải mã Phật tính; Mẹ thương con (Nguyễn Huỳnh Bảo Anh) – lòng thương con của người mẹ tần tảo; Bố yêu con thế nào? (Hà Quỳnh Anh) – cái nhìn khác về người cha; Salem tím (Chu Ánh Nguyệt) – ngụ ngôn kể lại; Trái tim xanh (Đặng Cao Cường) – tâm hồn anh nhi; Một chuyến đi thành phố (Nguyễn Thị Thu Hương) – một cảm thức mất mát; Hồ nước (Đào Đức Hải) – xung đột ngầm của vùng miền… Không quá cầu kì trong đặt vấn đề, phần phát triển câu chuyện nhanh chóng, cắt dựng đơn giản, những phim trên trước sau nhắm vào ý tứ và chăm chút một cái kết bất ngờ kéo theo bùng nổ cảm xúc. Và để giảm bớt trạng thái uy nghiêm già nua, chúng còn được gia giảm chất hài hước tươi tắn, một thủ pháp đa năng từng được nhiều người làm phim ngắn trên thế giới sao đi tẩm lại. Có cái hài vướng víu chút non nớt ô mai như Làm bạn ma (Đỗ Thanh Hà), Đùi gà đại chiến (Phan Huyền My)…và cũng có cái hài được tính toán để đánh động suy nghĩ như Bố yêu con thế nào, Chỉ một đô la, Chở đá đi chơi (Trần Ngọc Sáng). Nhưng đa dạng trong phim ngắn là ai cũng có cách nghĩ của người ấy nên hài hước lại ít ỏi hoặc không có trong những phim đậm chất ưu tư, lồng ghép luận đề “kiểu nội địa” như Thánh giá (Nguyễn Hồng Quân), Chạy trốn (Bế Nguyễn Minh Anh), Hồi ức (Nguyễn Việt Anh), Thinh không (Vũ Ngọc Phượng), Tất cả mọi thứ đều quay trở lại (Lê Lâm Viên), A good day to die (Nhóm YoungMedia), Bữa ăn cuối cùng (Thanh Trung)…, hay “kiểu hải ngoại” như Một cuộc thẩm vấn (Trang Nghiêm), The man who was there (Andy Nguyễn), BlackCoffee (Trần Quốc Bảo)… Điểm chung giữa hai kiểu này là tâm trạng bất an, hoài nghi, sám hối của người [trẻ] hôm nay, bày biện cả sự mơ hồ hóa những lựa chọn trong tình yêu, niềm tin hay sự tồn tại, chứng tỏ bất cứ không gian sống ở đâu cũng đang đẩy từng cá nhân tự vấn một cách riết róng. Các bộ phim đặt góc máy vào nhân vật chính mệt mỏi, cô độc, chạy trốn trước thực tại và cách để chấm dứt những truy đuổi nội tâm thường là tìm kiếm cái tạm thời, cái có thể an thần thoáng chốc. Tuy nhiên, dẫu biết người trẻ thường thích triết lí nhưng nếu bớt vòng vo phức tạp thì những phim trên, kể cả phim hải ngoại được trau chuốt hình ảnh, màu sắc và âm nhạc, sẽ truyền đạt ý tưởng gọn gàng và thấm thía hơn. Trong khi chờ đợi sự hoàn hảo, có thể coi Trái tim xanh là phim ngắn đạt được các tiêu chí cần có của thể loại, nhất là kịch bản, một thử thách then chốt mà người làm phim phải giải quyết.

            Dạng thứ hai, không phổ biến vì độ khó của nó, nhưng sản phẩm nào cũng khá chắc tay, là phim hoạt hình, mà thoạt xem tưởng dành cho trẻ con, song lại có khả năng chờ đợi người lớn hiểu thêm về tính cộng đồng trong Chiếc cầu xoay (Vũ Mạnh Hùng) và Xin chào bút chì (Phạm Phương Anh), về nói đi đôi với làm trong Dưới bóng cây (Đoàn Trần Anh Tuấn), về tự do trong Freedom (Phạm Việt Dũng), về sự bất công trong Chú bé đánh giày (Doãn Thành)… Khác với phim truyện, loạt phim hoạt hình này sớm bộc lộ phong cách làm phim riêng, từ kĩ thuật đến nội dung, xướng lên hi vọng về đà tiến của một kiểu hoạt hình thuần Việt.

            Dạng thứ ba là phim tài liệu ngắn. Thợ hồ (Hà Văn Hòa), Tình già (Đỗ Thanh Hà), Nhọc nhằn than (Lê Mỹ Cường), Khi ta 20 (Nguyễn Anh Thư), Nghề giật lùi (Cao Xuân Mạnh)… là các cách ghi hiện thực như nó vốn có. Trung thành với góc máy khách quan, hạn chế lời bình, các phim cho thấy sự tìm kiếm, thiết kế câu chuyện là hoàn toàn xác tín. Tôi nghĩ những phim này, nhờ thái độ chịu góp nhặt và chịu đựng sự thật đang là, sẽ dần giảm bớt nỗi ám ảnh về tính ngụy tạo hình ảnh từng có trong nhiều phim tài liệu trước đây và do đó, cho người xem nhiều trải nghiệm tận đáy.

***

            Dù trăm nhà đua tiếng thì vẫn còn đấy một nguy cơ mất hút của đa số người làm phim ngắn. Bởi cuộc chơi năm ăn năm thua khi ghi lại dăm phút hình ảnh rất khác với đường dài ngựa hay khi làm phim truyện nhựa. Trong số cả trăm phim ngắn tôi từng xem thì không ít phim chỉ làm như kỉ niệm, thỏa mãn ý thích, niềm vui cá nhân hoặc nhóm, chỉ tự phát như đặt máy thì quay, chèn vài đoạn nhạc là hoàn tất. Cũng có nhiều phim ngắn phô trương kĩ xảo, màu sắc âm thanh đều ấn tượng nhưng đích ngắm là để gọi mời đặt hàng làm clip ca nhạc hoặc giới thiệu sản phẩm. Họ, tức phần đông, nằm trong lời cảnh báo được coi như thuốc đắng dã tật của Yasujiro Ozu: trước tiên, là anh ta phải có khả năng làm việc như một nghệ sĩ. Để hi vọng rằng họ không phải đang làm một đoạn phim quảng cáo cho phim truyện dài tương lai mà phải là đạo diễn chuyên nghiệp của phim truyện trong tương lai [gần], tức như một nghệ sĩ đúng nghĩa, thì chỉ có thể gửi gắm ở đôi người. Một tinh thần làm phim ngắn để đi xa như của Bùi Thạc Chuyên (Cuốc xe đêm), Phan Đăng Di (Sen, Khi tôi 20), hai trong số ít ỏi đạo diễn có phong cách điện ảnh cá nhân và hiện đang tham gia vào các khóa đào tạo phim ngắn tại Việt Nam, vẫn chưa thật rõ ràng vào thời điểm hiện tại. Khi hai đạo diễn này đang trải nghiệm sự thờ ơ của khán giả Việt với dòng phim truyện (nghệ thuật) mà họ đeo đuổi thì cơ hồ nhiều người làm phim ngắn hẳn đã dự trù cách tìm an toàn ở đâu. Bởi thế, con đường ziczac, như Roman Polanski hình dung về nghề điện ảnh, vẫn luôn cần ý chí kiên định, sắt đá.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s