DƯỚI MẮT TÔI của TRƯƠNG CHÍNH


Thật đáng chào đón sự trở lại đầy đủ của Dưới mắt tôi vào đúng dịp 100 năm sinh Trương Chính (1916 -2016). Mưu phạt tâm công của Tao Đàn, đơn vị thực hiện bản in Dưới mắt tôi 2016, hẳn không chỉ là phục dựng một cuốn sách phê bình có giá trị, mà còn muốn thời thế phê bình văn học hôm nay nên  biết cách làm sao cho xứng mặt.

 Trong giờ giảng lầm rầm của một người mà chúng tôi đặt nickname là “giáo sư Lan Khai” cách đây chừng 15 năm, tôi nghe thoang thoáng cái tên Dưới mắt tôi. Tuy vậy, tình trạng chung, như sau này tôi biết thêm, là không nhiều người thực sự đọc Dưới mắt tôi. Một số cuốn sách điểm danh phê bình văn học giai đoạn 1930 – 1945, nếu tinh ý, cũng chỉ nhắc đến Trương Chính trong khả năng thâu tóm khá manh mún, sơ sài. Chính vì thế, một cách chính xác, chúng ta đã để “sổng” Dưới mắt tôi khá lâu, và cứ yên tâm với những các danh thân khác, dù đây là thói quen rất tệ hại.

Tôi cũng chỉ đọc Dưới mắt tôi bản đầy đủ khi được Tao Đàn nhờ viết Lời giới thiệu bản in 2016 mà tôi đăng lại như dưới đây. Một số bài lẻ của cuốn sách thì đã đọc đây đó, hoặc trong Tuyển tập Trương Chính. Nếu không phải thờ ơ quá mức, những người dính dáng đến văn chương, phê bình/nghiên cứu văn học cũng tự thấy áy náy mà đọc lại Dưới mắt tôi. Tất nhiên là không cần đọc Lời giới thiệu. Tôi chỉ là con tép trên mép con mèo, gan đâu mà dám mời mọc.

Phê bình văn học VN hiện nay, cứ từ tôi suy ra, vừa hèn vừa kém. Chạy loăng quăng khắp nơi. Đa số vừa chạy vừa húc vào dăm ba bức tường trời ơi đất hỡi. Số khác thì chạy theo kiểu nhảy ba bước, sức bật thì ít mà khả năng bết dính thì cao, toàn rơi vào vùng mù mờ, lảm nhảm, phe phía. Chỉ thật ít người có thể mách bảo, chỉ dẫn điều gì hay ho. Tôi biết, khi tôi có phúc phận viết vài ba câu cho cuốn Dưới mắt tôi, tôi sẽ phải xấu hổ rất nhiều. Nhân đây, xin cảm tạ Tao Đàn đã cho tôi cảm giác đó.

C360_2016-08-16-13-23-44-524

Hai cuốn gần đây của Tao Đàn, là Thế lực khách trú và Dưới mắt tôi, đều có bìa đẹp đến nao lòng!

            Nếu cần kể ra những xuất hiện làm ngạc nhiên văn đàn phê bình thập niên 1930, làm người ta phải thích thú vì sự thẳng thắn, nồng nhiệt, vừa lắm lí sự vừa giỏi bày tỏ riêng tư, thì chắc chắn Trương Chính thuộc hàng đầu tiên. Giờ đây, khi ta đã nằm lòng và chai dần việc trích dẫn những Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Trương Tửu, Trần Thanh Mại, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều,…, Trương Chính sẽ là trường hợp cộng thêm cho danh sách tìm đọc rất nên rút bớt theo đúng tinh thần kiểm kê lại. Thuở đầu xanh đôi mươi, đầu tay và là lần duy nhất Trương Chính tỏ rõ sự trực tính công khai với văn học Việt Nam đương kì hiện đại hóa đã để lại một thành quả không dễ nhầm lẫn: Dưới mắt tôi (1939). Tập sách này, liệu phải vì cái tên hơi “ngông” mà bị ẩn quá lâu sau lần xuất bản đầu, hay vì tự nó chỉ thuộc về một thời đoạn ngắn ngủi, nên người đọc hôm nay mới có dịp tri nhận đủ đầy?

            Nhìn thoáng qua, Trương Chính (1916-2004) đã và có lẽ tiếp tục được biết đến thường xuyên hơn ở tư cách dịch giả. Trong một quãng thời gian dài, từ khi là thành viên của “nhóm Lê Quý Đôn”[1], quãng 1957-1959, rồi giảng dạy tại Đại học Sư phạm Hà Nội, 1958-1979, Trương Chính gắn liền với công việc dịch văn học Trung Quốc thời Ngũ Tứ, đặc biệt là tác gia Lỗ Tấn, văn học Nhật Bản, văn học Đức, văn học Triều Tiên… Những Gào thét, Bàng hoàng, Chuyện cũ viết lại, Tạp văn của Lỗ Tấn; Bài ca tuổi trẻ của Dương Mạt; Núi đồi yên lặngKhu phố không có ánh mặt trời của Sunao Tokunaga, Làm gì của N.G. Chernyshesky, Gia đình Buddenbrok của Thomas Mann…, do Trương Chính dịch, cho đến nay, vẫn còn đủ sức gợi nhớ và thấp thoáng gọi mời sự tìm đọc của độc giả. Đáng kể hơn, Trương Chính, hẳn không chỉ vì nhiệm vụ giảng dạy đại học mà còn còn bởi phép ứng xử thường thấy ở các bậc trí giả bấy giờ trước biến cố thời thế, còn tìm về văn học trung đại Việt Nam. Dịch, khảo đính, giới thiệu, nghiên cứu thơ văn Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Công Trứ, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Nguyễn Quang Bích, Phan Huy Ích gắn liền với một Trương Chính chuyên chú di sản tiền nhân, cẩn trọng, công phu câu chữ. Chính bởi những điểm nhấn này mà sự khởi đầu của Trương Chính, một khởi đầu mà ta có thể gọi là nhập cuộc tức thì với phê bình văn học, lại là kiểu phê bình “trực chiến” văn học thập niên 1930, dường như bị che khuất đi.

            Phê bình văn học giai đoạn 1932-1945, càng về sau, càng phân rõ các thái độ, ý hệ và phương pháp. Nhờ sự hỗ trợ mau chóng và không ít lần đầy toan tính của báo chí, các tiếng nói phê bình, dù đã cố gắng tỏ ra bình tĩnh, vẫn thường xuyên va chạm, phân rẽ trước nhiều vấn đề, hiện tượng văn chương liên tục xuất hiện. Bởi vậy, trong khoảng mươi năm này, mọi kịch tính văn đàn không chỉ thuộc về các thời danh sáng tác mà còn chất chứa trong các mãnh bút phê bình, đủ tạo lập một thực tế cực kì sôi nổi để về sau được văn học sử luôn hào hứng gọi là tranh luận hoặc vụ án văn học. Những “cả giọng” vang lên và lập tức có phụ họa, những luận điểm mới được tiếp lời, những nghiên cứu vừa in có ngay hồi đáp. Thiếu Sơn, Lê Thanh, Hải Triều, Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Đinh Gia Trinh, Trương Tửu, Kiều Thanh Quế, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan…, tất cả, đều đã tìm được cho mình, nếu không là một “đối thủ” thích hợp để đối thoại, thì cũng là một nan đề để tự mình diễn giải, tạo dựng góc nhìn riêng. Thiếu Sơn đã từng như thế một cách đột khởi với Phê bình và Cảo luận (1933); Trần Thanh Mại đã đã từng như thế một cách kiên trì với Trông dòng sông Vị (1935), Hàn Mạc Tử (1942); Lê Thanh từng như thế hết sức nhất quán với Thi sĩ Tản Đà (1939), Cuộc phỏng vấn các nhà văn (1943), Đinh Gia Trinh từng như thế bằng tất cả sự nghiêm khắc của lí trí… Trương Tửu chọn khoa học khách quan, Hoài Thanh lấy hồn ta hiểu hồn người, Hải Triều nương tựa tri nền Mác-xít, Vũ Ngọc Phan phân loại và khảo tả… Chưa kể nhiều nhà văn thường xuyên buông bút phê bình hết sức xuất thần như Xuân Diệu, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Thạch Lam, Lan Khai, một số người đọc có tên hoặc ẩn danh cũng không bỏ lỡ cơ hội đăng báo một vài cảm nhận tác phẩm, thậm chí, còn chen vào những điểm nóng tranh luận chẳng mấy khi vãn hồi lúc đó. Trương Chính, khi vừa hai mươi tuổi, cũng từng đóng vai người đọc như thế, tự viết bài tranh luận, không cần qua đăng báo mà tự xuất bản thành sách. Phê bình văn học, ngay từ thuở ban đầu, ngoài không khí dân chủ và không gian bình đẳng, điều hôm nay chúng ta luôn sốt ruột chờ đợi, thì cốt yếu và đúng nghĩa nhất, vẫn là nơi thi thố những cá tính mạnh.

            Những cá tính sẽ điểm trúng đối tượng. Thị trường văn học 1932-1945 tuy đa dạng nhưng “bãi thử” phê bình vẫn không mấy biến động: văn xuôi Tự lực văn đoàn, thơ Mới, tả chân tiểu thuyết. Bộ ba tấm bia này cộng thêm những ngọn gió tri thức đến từ phương Tây là đủ sinh động, gay cấn cho các diễn đàn. Bởi, về căn bản, dịch chuyển theo điểm ngắm nào, tán dương hay chê bai, công nhận hay bác bỏ, nuông chiều hay đe nẹt, những gì Tự lực văn đoàn, thơ Mới, hay phóng sự, tiểu thuyết tả chân mang đến, là đồng thời tự bộc lộ chính mình, khẩu vị thẩm mĩ, tâm thế, và hơn nữa, khả năng nhập cuộc của anh ta – phải ngạc nhiên mà gọi thế vì phần đông nhà phê bình là nam giới. Cho đến khi văn học sử phải nhọc công phân định giá trị, sự tự bộc lộ của nhà phê bình trước ba hiện tượng văn chương trên, nhìn chung, có liên quan chặt chẽ với đường đi của cái mới, của những bứt phá, nổi loạn mà văn học Việt Nam thập niên 1930 đang mau chóng thể hiện. Trương Chính chọn trước tiên Tự lực văn đoàn, và, ở phía bên kia bàn đối thoại, không thể lý tưởng hơn, chọn Trương Tửu (1913-1999), một thế lực phê bình đương nổi, cho cuộc đọc hăng hái của mình. Trương Chính cũng định bàn luận nốt các thi sĩ hiện đại nhưng Thi nhân Việt Nam khiến ông bỏ ngang, ngược về tìm hiểu dân ca, ca dao để viết Những bông hoa dại (1942)[2]. Thời điểm này, thật thú vị, Trương Tửu, cũng với mục đích tương tự, viết Kinh Thi Việt Nam (1940).

            Tự lực văn đoàn trong nhìn nhận Trương Chính đúng là những ca văn xuôi hoàn toàn mới, phức tạp. Theo ông, “Đoạn tuyệt vẫn là một kiệt tác trong văn chương Việt Nam và tác giả nó vẫn được người ta cảm phục”; “Hồn bướm mơ tiên mở một kỷ nguyên mới trong lịch sử văn học Việt Nam và tác giả nó là một nhà luân lý cũng không phải là quá đáng”; “Gia đình có thể xem như một tác phẩm không tì vết”; “Đời mưa gió là một kiệt tác, dẫu nhiều người đã dựa vào luân lý, dựa vào đạo đức, tìm cớ kết án nó, và bảo rằng Nhất Linh và Khái Hưng ‘thi vị hóa’ nghề làm đĩ”; “sau Nhất Linh, sau Khái Hưng, Thạch Lam đã hiểu biết NGƯỜI một cách đầy đủ và xác đáng hơn”… Những đánh giá đầy hào hứng và hào phóng này rất hợp với tinh thần tiếp nhận cái mới của kiểu người đọc tân học không muốn đứng ngoài sự khiêu khích, đả phá các trật tự đạo đức, tư tưởng lỗi thời. Trương Chính tinh nhạy nhận ra mạch ngầm xuyên suốt trong cuộc viết của Tự lực văn đoàn thời đầu: chống Khổng giáo, cải tạo xã hội. Ông ủng hộ Nhất Linh, Khái Hưng vì mục tiêu đánh vào những huyệt nhạy cảm nhất của luân lý cũ kỹ, khắc nghiệt. Ông thiện cảm, đồng thuận và “khoan khái” như ông thú nhận vì những Loan, Nhung, Mai, Tuyết, mẫu người trẻ trung tân thời, đã nhất quyết vượt thoát sự kiềm tỏa của lớp người thủ cựu, tàn nhẫn và đang dần mất giá. Ông trọng con người cá nhân, ông chuộng quan niệm nhân sinh mới, ông đặt cược vào sự thắng thế của thời đại tiến bộ. Trương Chính phê bình Tự lực văn đoàn như thể dốc sức tạo hiệu ứng xã hội, như giăng thêm các khẩu dụ phản kháng vốn đã ghê gớm, công khai trong từng tác phẩm. Khi Trương Tửu kết án Lạnh lùng, khuyến nghị “tất cả những bậc phụ mẫu muốn con gái khỏi bị sự phóng đãng quyến rũ nên cấm tiệt không cho đọc quyển Lạnh lùng” thì Trương Chính thẳng thừng đáp trả rằng đó là lối phê bình ngụy biện, độc đoán. Trương Tửu kết án Đời mưa gió “thật đã có tội rất lớn đối với xã hội”, Trương Chính lại thừa nhận nó “huyễn hoặc ta, mê đắm ta như một mùi hương thơm nồng nhưng gay gắt”. Trương Tửu viết hẳn một bài luận dài để chỉ rõ những chỗ “soạn hỏng” của Nửa chừng xuân[3], Trương Chính dành đôi trang để cho tiểu thuyết này “một chỗ danh dự trong văn học nước nhà”. Trương Chính, ở tình thế đối thoại Trương Tửu, là vị hộ pháp Tự lực văn đoàn cho dù không ít lần ông vẫn thất vọng vì lối viết của họ. Cũng cần nhấn mạnh thêm, hai chục năm sau, khi viết [lại] về Nhất Linh, Khái Hưng, Trương Chính, khác với nhiều người đổi giọng theo thời, không hoàn toàn quay ngoắt bài xích triệt để. Ông tỏ ra chừng mực hơn[4].

            Có thể coi sự đối lập trong cách đọc của Trương Chính và Trương Tửu là một thành công của Tự lực văn đoàn. Giờ đây nhìn lại, chúng ta không lạ gì những bài kiểm tra phản ứng xã hội mà Nhất Linh, Khái Hưng tiến hành thông qua tác phẩm của mình. Thay vì chạy vòng quanh nhà văn, bắt bẻ họ hết cự li đến độ chính xác trong từng cảnh huống và tình tiết, Trương Chính cố gắng nhìn đúng mũi tên câu chữ bung ra sẽ nhắm điều gì. Vì vậy, Trương Chính thuộc vào số những người sớm ủng hộ thứ “văn chương tranh đấu” và kiểu nhà văn dùng văn chương như “khí giới mầu nhiệm để cải tạo xã hội”. Ông coi những công trình sáng tạo của nghệ sĩ bỏ mặc những người sống lầm than, cực nhục là “công trình bỏ đi” và đề đạt yêu cầu “nhà nghệ sĩ không có quyền đứng ngoài xã hội, ẩn trong tháp ngà để hưởng hạnh phúc mình một cách ích kỷ và khốn nạn”. Ở đây, Trương Chính, dù chưa kĩ lưỡng, nhưng đã sớm hiểu văn học lãng mạn có cách tiếp cận nhân sinh riêng, không nhất thiết phải bi kịch hóa mọi thân phận như cái nhìn của các nhà tả chân. Về sau, khi hạ bệ Tự lực văn đoàn, nhiều nhà nghiên cứu lại quay về xem nhẹ điểm mà Trương Chính lúc này đang muốn đề cao: lòng ham sống, trí mơ tưởng, những tia vui trong trẻo ở bất kì đâu và trong bất luận giai tầng nào. Thiết nghĩ, Trương Chính không quá mức ngây thơ phó thác tư kiến vào câu chuyện do nhà văn tạo dựng. Nhưng ông biết lẩy những nét trội, cá tính sáng tạo của từng tác giả. Do đó, rất đáng để hôm nay tâm đắc, ông thấy ở Khái Hưng phẩm chất nhà hội họa, “một nhà nghệ sĩ thuần túy”;  Thạch Lam là một nhà văn “nghĩ bằng cảm giác”; Nguyên Hồng là nhà văn “nhiều công phu và nhiều tin tưởng”. Với những nhà văn ông có ý “trừ thải” thì chứng cứ và lí lẽ ông đưa ra cũng khá chi tiết. Dĩ nhiên, Trương Chính không tránh khỏi sự bất ổn khi mãi xoáy vào nghệ thuật viết trong một giai đoạn mà sự hoàn thiện, đạt đến đỉnh cao của nó còn cần thêm thời gian và cần những cách đọc khác nữa mới khẳng định chắc chắn được.

            Xếp Trương Chính vào đội hình các nhà phê bình và biên khảo, Vũ Ngọc Phan ghi nhận tác giả Dưới mắt tôi “đã bắt đầu kỹ càng và có phương pháp” nhưng “nhiều lúc thiên về luận lý quá, hay tin tưởng ở mĩ thuật quá, người ta hóa ra thiên lệch trong xét đoán”[5]. Đánh giá này của Vũ Ngọc Phan, nhìn rộng ra, đều có thể đúng cho hầu hết các công trình phê bình văn học. Nhiều người còn ưa thích Trương Chính thẳng thắn, bản lĩnh đến mức trắng phớ khen chê. Dù đây là tư cách đáng quí nhưng phàm đã viết phê bình thì lẽ nào một mực véo von và ưa tâng bốc mới đạt? Sẽ dễ chịu hơn nếu giờ đây đón nhận Dưới mắt tôi mà không phải nghĩ nó là điển phạm phê bình. Nghĩa là, nó mời mọc chúng ta cùng đọc lại các tác giả, tác phẩm được nhắc đến; cùng dừng lâu ở những cột mốc văn chương vốn đã quen bị thờ ơ, quên lãng. Dưới mắt tôi, theo đó, dưới bút mực quá vãng xa xôi, vẫn ở trên hành trình cảo thơm lần giở của hôm nay bền bỉ, chân thành.

            Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

An Yên, 14-6-2016

MAI ANH TUẤN

[1] Về “nhóm Lê Quý Đôn”, xin xem: Thúy Toàn (2011), Những con ngựa thồ, NXB Tri Thức, H.,

[2] Xem “Tự giới thiệu” trong Trương Chính (1997), Tuyển tập Trương Chính, Tập 1, NXB Văn học, H., tr.5.

[3] Đó là những bài phê bình thể hiện khá rõ phương pháp, quan điểm và giọng điệu của Trương Tửu: Nửa chừng xuân của Khái Hưng (Loa, số 76, 1/8/1935); Đoạn tuyệt của Nhất Linh (Loa, số 77, 8/8/1935); Kết án Lạnh lùng (Ích Hữu, số 95, 15/12/1938); Kết án Đời mưa gió (Ích Hữu, số 97, 29/12/1938).

[4]Đấy là khi Trương Chính, cùng nhóm Lê Quý Đôn, viết Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957). Trong bộ sách có tính chất giáo trình này, ở tập III, phần Tiểu thuyết và Kịch 1930-1945, Trương Chính đã giới thiệu Nhất Linh, Khái Hưng tương đối gần với cảm nhận của ông trước 1945.

[5] Vũ Ngọc Phan (1951), Nhà văn hiện đại, in lần thứ hai, quyển Ba, Nxb Vĩnh Thịnh, H., tr.203-205.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s