Nguyễn Bảo Sinh và Nguyễn Huy Thiệp


Tôi không kể chuyện “tình bạn” của họ, dù đôi lần tôi được chứng kiến cái cách mà họ ngồi thu lu ở đâu đó như là hai lão nông vừa lên huyện về, gợi nhớ cảnh sinh hoạt hàng xóm láng giềng gần gũi, thân thuộc, chỉ cần chống cửa là nhìn thấy mặt nhau, ới nhau uống chè và ăn vặt. Văn chương Việt hình như chỉ thường tạo “cặp”, tức là bộ đôi, mà ít khi có tam tài, còn nếu có, cái kẻ thứ ba hẳn phải bắng nhắng hơn một chút. Hiện giờ cũng thế, tôi thấy nhiều bộ đôi sắp sửa thành mẫu mực, từ dung mạo đến tư tưởng, của kiểu “áo anh rách vai, quần tôi có vài miếng vá”.

Nguyễn Bảo Sinh và Nguyễn Huy Thiệp sở dĩ thành “cạ” vì họ, xét cho kĩ, đều có lớp lõi folklore khá dày dặn. Đó chính là căn nền của họ, mái nhà và là sân vườn của họ, nơi họ trú thân, học theo và nhón lấy vài thứ đắc dụng cho việc viết lách của mình.

Nguyễn Bảo Sinh, cho đến nay, theo tôi, là một tác giả đáng kể. Ông là nhà thơ bẩm sinh với nghĩa, rất nhiều sự việc và tình thế trong đời thường, ông đều có thể diễn nôm thành thơ. Số lượng thơ của ông chắc lên đến cả ngàn bài và nhiều trong số chúng được người đời truyền tụng, thuộc và thích thú. Chỉ riêng việc thuộc và đọc được thơ, vào thời điểm này, theo tôi, đã rất khác biệt. Nhiều người nghiên cứu thơ rất giỏi liệt kê tác giả, tác phẩm và trích dẫn đủ loại khái niệm nhưng khi cần thiết lại ấp úng không nhớ nổi nửa bài. Thơ Nguyễn Bảo Sinh không những được thuộc mà đây đó, người ta đồng nhất thơ ông với cái gọi là thơ dân gian, truyền khẩu đã đành mà truyền trên mạng cũng nhan nhản. Ta sẽ hơi giật mình vì cái cách ông đưa thơ đến độc giả: chúng được đánh máy, in thành “tập”, khổ nhỏ bằng bao thuốc, bìa màu vàng, có khi được đánh mục lục, và cứ thế, được ông tặng cho người đọc khi có dịp gặp trực tiếp. Đi đâu Nguyễn Bảo Sinh cũng xách theo một “túi thơ” như các em sang chảnh kèm LV vậy. Có khi ông còn để thơ ở túi áo, giống hệt các bà đi chợ nhét tiền dưới cạp quần. Tình trạng tặng thơ miễn phí ở Hà Nội trầm trọng đến mức nhiều nhà phê bình thơ có bạn thân là các anh/chị đồng nát. Riêng Nguyễn Bảo Sinh tặng thơ ai, tôi dám chắc, người đó cũng đọc vài trang.

 Thơ Nguyễn Bảo Sinh có lẽ dựa trên cách thực hành lời lẽ của dân gian. Đó là dạng nói lái, nói ngược, nói tục. Nó, theo tôi, đưa đến mấy hiệu ứng:

*) Hài hước, đùa cợt, đôi khi có ý giễu. Ví dụ:

– Muốn so thơ dở thơ hay

So bồ của họ biết ngay thôi mà

(Điều này, theo tôi, có thể kiểm chứng được, và tương tự, ngay cả trong nghiên cứu-phê bình!)

– Tuổi già như lá mùa thu

Cái răng thì rụng cái cu thì mềm

– Hôm xưa lên tỉnh về làng

Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi

Bây giờ quần trễ rốn lồi

Khổ tôi khổ cả bố tôi đang thiền

-Cuối cùng tất cả chúng ta

Đều lên nóc tủ ngắm gà khỏa thân

– Ai cũng làm được nhà thơ

Ai cũng có thể “cù sơ” của mình

(“Cù sơ” không khó. Khó chăng là nghệ thuật “cù sơ”. Vì thế, làm thơ mà không nghệ thuật thì cũng như “cù sơ” sai cách vậy).

*) nhìn ngược, nói ngược các ý niệm đã mặc định, lạ hóa những điều quen thuộc. Chẳng hạn:

– Dạy con từ thuở còn thơ

Dạy vợ từ lúc nó chưa dạy mình

– Trưởng thành con chống lại cha

Là lúc trách nhiệm người cha hoàn thành

– Mặc quần chẳng để mặc quần

Mặc  quần chỉ để khi cần cởi ra

-Khỏi bệnh nhồi máu cơ chim

Coi như nhồi máu cơ tim suốt đời

-Muốn sống như một thánh dâm

Ta phải qua được nhiều lần suýt toi

Nên khi nhắm mắt lìa đời

Chim không bị xẻo mỉm cười ra đi

*) chạm đến khả năng biện giải, triết lí những điều cao siêu, những “tính người” cơ bản nhất. Kiểu như:

-Khi mê bùn chỉ là bùn

Ngộ ra mới biết trong bùn có sen

Khi mê tiền chỉ là tiền

Ngộ rồi mới biết trong tiền có tâm

-Khi mê tình chỉ là tình

Ngộ rồi mới biết trong tình có dâm

Khi mê dâm chỉ là dâm

Ngộ rồi mới biết trong dâm có tình

– Cùng chung một chuyến đò ngang

Kẻ thì sang bến người đang trở về

Lái đò lái mãi thành mê

Sang về chẳng biết mình về hay sang

-Ái tình nếu uống đủ liều

Loài người sẽ thoát được điều tà dâm

-Sợ vợ tới chỗ tận cùng

Ta sẽ cảm thấy như không sợ gì

Nguyễn Bảo Sinh còn viết văn xuôi, dạng truyện kí (như một hình thức phổ biến trong văn học trung đại). Truyện kí đó, đôi khi, là “liệt truyện”, khi là “ngẫu lục”. Gần ngàn trang của Bát phố, theo tôi, có nhiều điểm đặc sắc và dễ làm các nhà văn thành danh ngượng chín mặt vì chưa viết được như thế.

Nguyễn Huy Thiệp, dưới bóng mát của folklore, đã thụ hưởng và tiếp nối những gì? Trước hết là cách thực hành ngôn ngữ. Ngôn từ bình dân ít nhất đáng sợ ở sự chính xác, giản dị, ít khi bị “thôi xao”. Khả năng diễn đạt sát sườn, bắt chết đối tượng bao giờ cũng là khổ công thực sự của người cầm bút. Nhưng dân gian thì có vẻ đạt đến thượng thừa khi nói “cu ai nấy đái”; “trâu thì lấy dây mà dắt/người thì lấy c. mà lôi”, “mặt nào ngao nấy”… Tôi không tin nhiều nhà văn hiện nay có thời gian và nhất là bản lĩnh để viết xong vài câu hóc hiểm như thế. Họ luôn sốt ruột viết loăng quăng để được các nhà phê bình dán nhãn cho các thủ pháp mà chỉ chính các nhà phê bình ấy hiểu.

Khuôn đúc ngôn ngữ dân gian chứa đựng nhiều khả thể tái tạo. Các ngạn ngữ, tục ngữ là những câu nói ngắn, kiệm lời, đôi khi khá hình ảnh và bóng bảy, có tác dụng như những “giáo khoa thư” về lẽ sống, kinh nghiệm ứng xử với cộng đồng, thiên nhiên. Có thể thấy Nguyễn Huy Thiệp đã kiên định ủng hộ “lối nghĩ dân gian” khi xây dựng ngôn ngữ của những nhân vật xuất thân nông thôn, nông dân. Bà Lâm (Những bài học nông thôn) rất điển hình cho kiểu “trực tiếp lội xuống bùn để bắt những ‘con cá chân lí’ trong cuộc sống” mà Nguyễn Huy Thiệp ưa thích. Nhân vật này luôn có những chuyện “rợn rợn”, những lời “ác khẩu” nhưng nhờ đó, tính chất sự việc, sự kiện được nắm bắt sát sườn nhất. Tương tự, phát ngôn của ông Bổng (Tướng về hưu), Bường (Những người thợ xẻ), tổng Cóc (Chút thoáng Xuân Hương) ông giáo Quỳ (Thương nhớ đồng quê)… đều tiệm cận thứ “châm cảnh” rất cá nhân trong bối cảnh xã hội mất dần những đại ngôn, đại tự sự bao trùm. Bằng cách để lời lẽ của lớp người lao động, mưu sinh ngoài vòng cương tỏa chiếm chỗ văn bản, Nguyễn Huy Thiệp đã chứa sẵn ý thức đáp trả sản phẩm văn chương nghệ thuật minh họa “đọc rất khó vào” của đương thời.

Nói ngược, nói lái, nói quá, và đặc biệt nói tục đã trở thành chiến lược lời, chiến lược phát ngôn của văn học/văn hóa dân gian, không chỉ vì thỏa mãn bản tính ưa tự do ứng tác mà còn vì quan niệm, thẩm mĩ riêng khác. Lớp từ vựng liên quan đến cái tục tất nhiên hữu đắc trong các tình huống phải đối thoại, đối chọi với cái thiêng do giới có chữ có học tạo ra và tôn sùng. Đặc biệt, khi có cơ hội, lớp từ vựng đó sẽ chiếm chỗ, thế chỗ những gì trang trọng, mực thước, đạo đức vốn tự tín miễn trừ kẻ ngoài lề. Trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp còn có lớp ngôn ngữ bị coi là thô tục, phi thẩm mĩ. Vốn từ bị dán mác khiếm nhã như phân, cứt, dái, buồi…, vẫn được nhà văn chủ ý sử dụng không hề chùn tay. Ở đây, một lần nữa, ta sẽ thấy sự hợp lí, đúng hơn là một lo-gic nội tại của hiện tượng trên khi nhìn lại tư duy ngôn ngữ dân gian. Luôn luôn và bất cứ thời đại nào, sự phá bĩnh đến bất trị của dân gian đối với những quy phạm văn chương chính thống thường rõ nhất trước hết ở hệ lời.

Thực ra, cặp cạ Nguyễn Bảo Sinh – Nguyễn Huy Thiệp còn có Đồng Đức Bốn chen giữa. Nhưng số lẻ theo kiểu tam tài, trong trường hợp này, không sinh được. Tôi sẽ trở lại mô hình biến dịch trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp ở lần khác.

Advertisements

2 responses to “Nguyễn Bảo Sinh và Nguyễn Huy Thiệp

  1. Sorry không tỉm thấy contact nên xin comment ở đây,
    Tình cờ đọc bài về Văn Học Hải Ngoại của bạn ở đây, nên muốn hỏi bạn có quyển này không ạ:
    Lý luận và phê bình / Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước 1975-1995 của Bùi Vĩnh Phúc, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1996

    Thanks bạn,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s