Việt Nam thi ca luận


Việt Nam thi ca luận (1942) của Lương Đức Thiệp, nếu có điểm gì khả thủ nhất cần phải đọc lại để hình dung rõ hơn về sự đa dạng quan điểm thơ ca thời bấy giờ, thì theo tôi, nằm ở tính chất và cảm hứng “luận” mà tác giả không ngần ngại hiển thị ngay trong tên sách.

Thập niên 1940 chứng kiến nỗ lực tạo dựng nhiều công trình chuyên sâu thay vì chỉ bỏ công chăm chút các bài riêng lẻ của giới phê bình – khảo cứu văn chương. Có thể thấy sự dày dặn ngày một quyết định của vốn tri thức mới, sự khởi sắc đang vào độ cao trào của sáng tác, sự hậu thuẫn lắm mẹo mực của báo chí, in ấn xuất bản đã thúc đẩy các nhà phê bình nắm lấy cơ hội trổ tài bày biện cách đọc, tỏ quyền uy phán quyết, định danh và định giá. Những gì mà, chẳng hạn, Trần Thanh Mại (Hàn Mạc Tử, 1941), Trương Tửu (Nguyễn Du và Truyện Kiều, 1942; Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, 1943), Hoài Thanh (Thi nhân Việt Nam, 1942), Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại, 1942-1945), Đặng Thai Mai (Văn học khái luận, 1944) công bố, xét đến cùng, đều toát lên hình ảnh một chứng nhân hào hứng dấn thêm bước đi chắc chắn vào địa hạt khoa học văn chương vốn chưa có nền móng vững vàng trước đó. Tất nhiên, cho đến thời điểm ấy, nghĩa là trên dưới ba mươi năm độc giả đã dần quen với việc có rất nhiều biên khảo, tranh luận/tranh cãi, phê bình văn học trên báo chí, vẫn khó cả tin rằng tất cả các quan điểm, ý kiến và ý hệ đều được chấp thuận một cách nhẹ bẫng. Chỉ sau này, khi việc kiểm thảo lịch sử phê bình văn học trở nên phổ biến, các trước tác nêu trên mới bị/được đặt trong một vài tên gọi, vị trí, vai trò nhìn chung muốn gây cảm giác yên ổn.

“Luận”, qua thao tác trình bày của Lương Đức Thiệp, là những phân tích, diễn giải tương đối bài bản về thơ, sáng tác thơ. Không chỉ dừng lại ở những bao quát về phong trào Mới đang như nước vỡ bờ, Lương Đức Thiệp còn đẩy tri kiến của mình xa hơn, đi thẳng vào ngõ ngách của thực hành thơ ca, một công việc rất mực cá nhân, riêng tư đến mức bướng bỉnh, “chẳng thèm chấp” những lời khuyên răn nghề nghiệp dù chí tình. Lương Đức Thiệp, bởi giọng điệu có phần giáo khoa thư, nhất là ở chỗ cần đối thoại thì ông ưa thích chỉ dạy, những đoạn cần cởi mở thì ông đóng vai xét nét, sẽ tự mình làm đứt gãy dây kết nối người nghe, người theo dõi. Trong khi thời đại đã dung dưỡng những cái tôi dám tuyên bố là Riêng, là thứ Nht, thì nhà phê bình cũng “cố lách mình tìm một lối ra”. Cái exit mà Lương Đức Thiệp phăm phăm truy hướng được đặt gọn trong cái gọi là “chủ trương” ẩn không ít tham vọng đáng quý nhưng cũng ngây thơ của ông.

Trước tiên, về thơ Mới, Lương Đức Thiệp không vội đề cao những cách tân, những đuôi chủ nghĩa mà số đông thi sĩ muốn bám vào. Ông giữ cự li chừng mực với cả hai tả hữu lối thơ, một bên Nguyễn Bính, Anh Thơ, Bàng Bá Lân và bên kia, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh. Ông, chí lí thay, còn sớm cảnh giác kiểu thơ tả chân xã hội của Tố Hữu. Tóm lại, thi phẩm của họ, dù tân kì hay quen thuộc, ông vẫn hình dung được cái căn bản. Tâm thế nổi loạn, khiêu khích hay chất phác, tự nhiên của họ, ông đều bắt thóp được đâu là thật hay giả. Bởi vậy, toàn bộ quang cảnh thơ Mới, một chân trời làm nhiều người ngây ngất ấy, với Lương Đức Thiệp, không hoàn toàn là đột biến, riêng biệt, không một ai là Columbus và cũng chẳng ai đơn độc. Thái độ bình thản đón nhận thơ Mới của Lương Đức Thiệp có lẽ là một giải pháp mang tính dung hòa, thậm chí là dàn hòa, hai xu hướng đối nghịch lúc bấy giờ là tán dương, lancer và phủ nhận, xem thường. Ông đã rất chính xác khi chỉ ra “bao nhiêu sở đắc về Thi ca Tàu, bao nhiêu kinh nghiệm của các phái thơ Pháp, thi sĩ Việt Nam thừa hưởng được cả, ứng dụng được gần hết cả”. Ông không ngại ngần điểm mặt “nhân công”, “kĩ thuật gia” đã làm hỏng “chất thơ”. Ông dẫn ca dao, viện thơ Pháp, kéo thơ trung đại để chứng minh sự chắc mẩm về mới và cũ của mình. Ngày nay đọc lại, chúng ta có thể nhất trí rằng, dù chỉ với vốn tri kiến mỏng mảnh, Lương Đức Thiệp vẫn cứ có quyền đưa các “ngôi sao” trên thi đàn về gần với mặt bằng chung, nơi ông nhìn thấy sự chằng chịt của thơ xưa và nay, của độc sáng và học đòi, hoàn hảo và tầm thường. Nhưng điều khiến chúng ta tiếc công sức của Lương Đức Thiệp ấy là ông chưa thấy hết sức mạnh, quyền lực của cái mới, cái nhất định sẽ thắng thế trong mọi vận động, từ xã hội đến văn chương, mà nếu hờ hững hay chống lại, đều không phải là ứng xử tỉnh táo. Đứng về cái mới là dự vào lẽ đương nhiên, hiểu thấu tầm quan trọng của hoa và nhụy, của các dự phóng tiềm tàng. Hơn nữa, khi Lương Đức Thiệp tỏ ra “biết rồi, khổ lắm!” các trường phái thơ, công việc làm thơ, khi ông lấy kinh nghiệm đọc của mình để đo trải nghiệm viết của thi sĩ, rất có thể ông sẽ bị số đông thi sĩ đương thời thấy “chướng tai”. Về điểm này, Hoài Thanh khéo léo hơn hẳn. Hoài Thanh lấy “hồn tôi để hiểu hồn người”, “bài thiệt hay trích đã đành, bài hay vừa tôi cũng trích”, “thỉnh thoảng có nói đến cái dở cũng cốt cho nổi cái hay”. Thi nhân Việt Nam nghiễm nhiên được đón nhận vì đã hạ tọa độ thơ Mới vào vòng tâm của mĩ học lãng mạn ưa trữ tình, duy cảm, chủ quan hóa cả cách tiếp nhận thơ. Lương Đức Thiệp “bất phùng thời” vì nghênh diện thơ Mới ít nhiều với bộ mặt bề trên, khác hẳn vẻ nồng nhiệt say sưa của tác giả Thi nhân Việt Nam.

Phần “luận” nhiều nhất của Lương Đức Thiệp nằm ở “chủ trương”, một kiểu đề đạt gần như cẩm nang dành cho sáng tác thơ. Ông lưu ý “thơ không niêm luật, thơ ít vần không sao” nhưng “nó phải có nhịp điệu”; thi sĩ “phải lấy tình cảm làm trụ cốt cho thơ nhưng tình cảm không được hỗn loạn”. Ông nhắc nhở dùng lí trí trong việc sáng tác thi ca không đồng nghĩa với việc “làm dàn bài” cho một quyển tiểu thuyết. Ông cảnh báo thi sĩ không nên hùa theo đảng phái vì “một khi xã hội đã thay đổi, ý kiến con người cũng thay đổi, các đảng phái không còn đủ lẽ tồn tại nữa”. Ngắn gọn, ông định nghĩa “thơ phải cấu tạo giữa nguồn rung động còn nóng hổi của cảm giác, của ý tình”. Có thể thấy dấu vết các tiêu chí cũ (tình, ý, nhịp điệu…) như các thi sĩ xưa từng quan niệm trong chủ trương của Lương Đức Thiệp. Thực tế, ông vẫn đứng trên cầu nối giữa việc kế thừa quan niệm thơ ca trong truyền thống Á Đông trọng tình và việc phải ý thức được chất liệu thơ (cái mà ông gọi là “tài liệu thể chất”). Tôn chỉ “thơ phải sáng sủa”, “tổng hợp”  hay 4 nguyên tắc do ông đưa ra cho thấy sáng tác thơ là công việc rất nên bài bản, người viết thơ phải khổ công rèn giũa, ngẫm nghĩ. Hẳn ông đã thấm thía tình trạng lạm phát thi sĩ (“40.000 hay 400.000?” như Hoài Thanh tự hỏi) không ích lợi gì cho sự phát triển của thơ ca. Nhưng vào thời điểm ông nêu vấn đề, liệu mấy ai bỏ túi những khuyến dụ chỉ có tác dụng làm bản thân chùng lại trên con đường đoạt lấy danh hiệu thi sĩ kể ra cũng nên tên tuổi?

Sự thất thế của “luận” không hẳn do người viết quá thẳng thắn hay cao giọng. Nó thất thế một phần vì nồng độ lí tính, lí luận đậm hơn một chút so với khuôn thưởng thức của số đông. Căn nền văn hóa lấy “cảm tình làm bản vị” (Đào Duy Anh) vẫn chi phối trực tiếp sinh hoạt tri thức, học thuật. Tất nhiên Việt Nam thi ca lun chưa đủ sức vóc để xác lập cột mốc một dạng lí thuyết về thơ. Nó chỉ phần nào báo hiệu rồi đây sẽ có nhiều người tham gia bàn định, nghiên cứu thơ khác với lối phê bình chủ quan ấn tượng. Việc nó bị lãng quên chỉ là do chúng ta chưa kịp nhắc chân khỏi vài điển phạm phê bình quen thuộc chứ không phải do cuốn sách hoàn toàn vô giá trị.

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s